vanban.org

Bản án 34/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 28/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 01 (năm) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2020/HS-ST
Ngày: 28-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Kiều.

Ông Nguyễn Hồng Thơ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Cẩm Hừng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Thành Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2020/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 4 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 76/2020/HSST-QĐ, ngày 12/5/2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1987, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Tổ A, khóm B, Phường C, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Hữu T và bà Nguyễn Thị M; có 12 anh, chị em, bị cáo là con thứ 10 trong gia đình; Vợ tên Lê Nguyễn Phi Y, sinh năm 1989 và có 02 người con: con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không; Đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hữu Đ biết sử dụng ma túy từ năm 2016, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 25/10/2019, Đ dùng điện thoại nhãn hiệu Zono, màu trắng có lắp sim số 0778 185 157 gọi vào số điện thoại 0522 522 346 cho một người thanh niên (không biết tên và địa chỉ cụ thể) hỏi mua 200.000đồng ma túy thì người thanh niên này đồng ý và hẹn giao trên đoạn đường QL30, gần Trạm xăng Phường C, thuộc khóm D, phường C, thành phố CL. Khoảng 10 phút sau, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ManGostin, biển số 66P1-251.53 đến gần trạm xăng để nhận ma túy. Đến nơi Đ đưa cho người thanh niên này 200.000đồng, người thanh niên này nhận được tiền, đồng thời lấy 01 bịch nylon có quấn băng keo màu đen, dáng lên yên xe của Đ.

Nhận được bịch nylon có quấn băng keo màu đen, Đ chạy xe vào trong hẻm thuộc tổ E khóm D, Phường C để kiểm tra. Đ mở băng keo màu đen ra bỏ và cất bịch nylon được hàn kín, bên trong có nhiều tinh thể rắn màu trắng biết đây là ma túy nên cất vào lưng quần phía sau bên phải rồi chạy xe về nhà. Trên đường đi thì bị Công an Phường C đang tuần tra thấy Đ có dấu hiệu nghi vấn nên yêu cầu dừng xe lại và tiến hành kiểm tra phát hiện trên người của Đ có tàng trữ trái phép chất nghi là ma túy và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 00 giờ 15 phút ngày 26/10/2019.

Biên bản bắt người phạm tội quả tang thể hiện:

Tại vị trí bên trong lưng quần phía sau bên phải của Đ có 01 bịch nylon màu trắng, hàn kín, bên trong bịch nylon chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng (Đ khai nhận là ma túy đá), được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1.

Trên tay trái đang cầm 01 điện thoại di động, nhãn hiệu ZONO màu trắng, đã qua sử dụng.

Kiểm tra xe mô tô nhãn hiệu ManGostin, màu xanh, biển số 66P1-251.53 không phát hiện gì thêm.

Tại kết luận giám định số 865/KL-KTHS ngày 27/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch ny lon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong bì thư ghi niêm phong ký hiệu A1 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,134 gam loại Methamphetamine (số thứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ). Chất ma ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,082 gam, được niêm phong trong phong bì số 900 ngày 26/10/2019, hoàn lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh xử lý theo qui định pháp luật.

Biên bản xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Hữu Đ có dương tính Methamphetamine.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu ManGostin, màu xanh, biển số 66P1-251.53 do chị Nguyễn Kim P, sinh năm 1985, ngụ ấp A, xã MT, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp làm chủ sở hữu. Khoảng tháng 05 năm 2019, chị P bán cho anh Dương Phước T, sinh năm 1986, ấp C, xã PM, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp với giá 4.000.000 đồng, lúc bán chị P và anh T không có làm giấy mua bán. Khi Đ mượn xe của anh T nói đi công việc nên anh T không biết việc Đ sử dụng xe vào việc phạm tội nên ngày 03/3/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp trả lại cho chủ sở hữu.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Hữu Đ thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại cáo trạng số 22/CT-VKSND-TPCL, ngày 24 tháng 3 năm 2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo Nguyễn Hức Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hức Đ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Nguyễn Hữu Đ mua ma túy tàng trữ nhằm mục đích sử dụng nên không phát sinh lợi nhận. Do đó, không áp dụng khoản 5 để phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Đ.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,082 gam, được niêm phong trong phong bì số 900 ngày 26/10/2019.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu ZONO, màu trắng, có lắp sim số 0778 185 157 dùng để liên lạc mua trái phép chất ma túy. Hiện vật chứng đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh đang tạm quản lý.

Đối với người thanh niên sử dụng số điện thoại 0522 522 346 theo Đ khai đã bán trái phép ma túy cho Đ nhưng do không xác định nhân thân và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã tách ra để tiếp tục điều tra xử lý sau.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Đây là vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy do Nguyễn Hữu Đ thực hiện. Đ là người nghiện ma túy đã mua 200.000 đồng ma túy loại Methamphetamine để sử dụng. Lúc 00 giờ 15 phút ngày 26/10/2019, trong khi Đ cất giữ trong người khối lượng 0,134 gam ma túy loại Methamphetamine đang điều khiển xe lưu thông trên đoạn đường, thuộc tổ E khóm D, Phường C, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp thì bị Công an Phường C kiểm tra bắt quả tang.

Theo kết quả giám định của cơ quan chuyên môn, tinh thể rắn chứa trong 01 bịch ny lon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong bì thư ghi niêm phong ký hiệu A1 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,134 gam loại Methamphetamine.

Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Đ về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ, cũng như lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là đúng và phù hợp với lời khai nhận của bị cáo, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo Nguyễn Hữu Đ là đúng và hành vi của bị cáo là có tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như sau:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc ALR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hữu Đ là nguy hiểm cho xã hội, vì đã xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, đặc biệt là gia đình của bị cáo, vì người nghiện ma tuý chỉ biết sử dụng ma túy để thỏa mãn cho bản thân, không chăm sóc cho gia đình, điều mà xã hội hiện nay đang lên án. Nay việc đưa bị cáo ra xét tại phiên tòa hôm nay là cần thiết.

Do đó, bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết, nhằm tiếp tục cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,082 gam, được niêm phong trong phong bì số 900 ngày 26/10/2019.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu ZONO, màu trắng, có lắp sim số 0778 185 157 do Đ dùng để liên lạc mua trái phép chất ma túy. Hiện vật chứng đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh đang tạm quản lý.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định; bị cáo mua ma túy tàng trữ nhằm mục đích sử dụng nên không phát sinh lợi nhận nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm được quy định tại điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 01 (năm) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,082 gam, được niêm phong trong phong bì số 900 ngày 26/10/2019.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu ZONO, màu trắng, có lắp sim số 0778 185 157 do Đ dùng để liên lạc mua trái phép chất ma túy. Hiện vật chứng đang được chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh đang tạm quản lý.

- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ