vanban.org

Bản án 34/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 09/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Nguyễn Thanh L 30 (Ba mươi) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22/02/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án. Phạt bổ sung Nguyễn Thanh L số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÔNG CỐNG
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2020/HS-ST
Ngày 09 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Tuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Minh Trí

2. Bà Lê Thị Dệt

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Thảo - Thư ký của Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2020/TLST-HS ngày 03/6/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2020/QĐXXST-HS ngày 26/6/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh L, sinh năm 1989, tại thị trấn N, huyện C, tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Tiểu khu BG, Thị Trấn N, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh L1 và bà Hà Thị H; Có vợ là Phạm Thị Tr và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 22/12/2014 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội "Cướp giật tài sản", theo bản án số 339/2014/HSST. Chấp hành xong hình phạt ngày 07/11/2016; bị bắt tạm giữ từ ngày 22/02/2020 đến ngày 01/3/2020 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hoá (Có mặt).

- Người làm chứng:

1. Anh Trần Sỹ T, sinh năm 1996 (Vắng mặt);

2. Anh Lê Viết T1, sinh năm 1996 (Vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ, ngày 22/02/2020 Công an huyện Nông Cống làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực thị trấn Nông Cống phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Thanh L đang có hành vi mua bán trái phép 01 tép (gói) nhỏ nghi là heroin cho Trần Sỹ T lấy 200.000đ ở cổng Ngân hàng nông nghiệp chi nhánh Nông Cống, Công an huyện Nông Cống lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.

Tại cơ quan điều tra T và L khai nhận, vào khoảng 10 giờ 45 ngày 22/02/2020, Trần Sỹ T, sinh năm 1996, trú tại: Thôn HT, xã Ch, huyện C bắt xe ra ngã ba Đ thuộc tiểu khu Đ, thị trấn N, tại đây T mượn điện thoại của một người đàn ông không quen biết gọi cho Nguyễn Thanh L để hỏi mua ma túy với giá 200.000đ thì được L đồng ý và hẹn gặp tại Ngân hàng Nông nghiệp chi nhánh Nông Cống. Lúc đó T thấy Lê Viết T1 đi qua nên gọi lại và nhờ T1 chở tới Ngân hàng Nông nghiệp chi nhánh Nông Cống. Khi đến nơi T và T1 đợi khoảng 15 phút thì thấy L đi bộ lại, gặp nhau như đã hẹn L đưa cho T 01 gói nhỏ heroin T cầm lấy và đưa lại cho L 200.000đ. Việc mua bán trái phép chất ma túy giữa L và T vừa thực hiện xong thì bị lực lượng công an bắt quả tang thu giữ trên người Nguyễn Thanh L 200.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu GOLY màu đen, thu giữ trên người Trần Sỹ T 01 (tép) gói heroine, đồng thời tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, niêm phong vật chứng; khám xét nơi ở của Nguyễn Thanh L nhưng không thu giữ được gì có liên quan.

Đấu tranh về nguồn gốc số ma túy nói trên Nguyễn Thanh L khai nhận: vào tối ngày 21/02/2020 L bắt xe bus ra thành phố TH có việc cá nhân, tại đây L gặp một người đi xe ôm lạ mặt, thông qua nói chuyện thì được biết người này có bán ma túy nên L đã mua 01 (tép) gói heroine với giá 100.000đ với mục đích bán lại kiếm lời.

Đối với người bán heroine cho L, L không nhớ rõ đặc điểm nhận dạng, địa chỉ cụ thể. Vì vậy cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống không có căn cứ xác định để xử lý.

Đối với Trần Sỹ T là đối tượng nghiện ma tuý đã mua ma tuý để sử dụng nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống đã ra quyết định xử phạt hành chính theo quyết định số 56/QĐ - XPHC ngày 28/3/2020.

Đối với Lê Viết T1 là người đi cùng với Trần Sỹ T nhưng việc L và T trao đổi việc mua bán heroine T không biết nên cơ quan CSĐT công an huyện Nông Cống không đủ căn cứ để xử lý đối với Lê Viết T1.

Ngày 24/02/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống ra quyết định trưng cầu giám định đối với 01 gói giấy màu trắng có dòng kẽ bên trong có chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà nghi là heroine được thu giữ theo biên bản bắt người phạm tội quả tang được dán kín trong một phong bì màu trắng viền xanh, đỏ, ghim bốn góc được dán kín, niêm phong bởi 05 hình dấu của Công an thị trấn Nông Cống, Công an huyện Nông Cống và chữ ký của Đỗ Khải H1, Đỗ Gia L2, Lê Huy T2, Nguyễn Thanh L, Trần Sỹ T phong bì được ký hiệu M.

Tại bản kết luận giám định số: 851/PC09 ngày 27/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,036 (không phẩy không ba sáu gam) loại: Heroine.

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 01/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Nguyễn Thanh L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (Viết tắt là BLHS).

Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nông Cống giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là HĐXX) áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Nguyễn Thanh L mức án từ 30 đến 36 tháng tù, phạt bổ sung từ 5.000.000đ đến 7.000.000đ; tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu GOLY màu đen đã qua sử dụng và số tiền 200.000đ, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của CQĐT Công an huyện Nông Cống và Điều tra viên; của VKSND huyện Nông Cống và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (Viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định được: Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 22/02/2020 tại tiểu khu BG, thị trấn N, huyện C, tổ công tác Công an huyện Nông Cống phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Thanh L có hành vi bán trái phép 01 (một) gói ma túy cho Trần Sỹ T lấy 200.000đ như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trước đây bị cáo đã khai nhận tại CQĐT, phù hợp với tang vật chứng thu được và các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án.

Xét tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Các tội phạm về ma tuý đang là vấn nạn trong đời sống xã hội, làm tha hoá về mặt đạo đức và lối sống của một bộ phận không nhỏ tầng lớp thanh thiếu niên, làm gia tăng tình hình tội phạm và các loại tệ nạn khác. Ma tuý cũng là một trong những nguyên nhân gây lan truyền căn bệnh HIV/AIDS, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung. Hành vi mua bán trái phép tổng trọng luợng (khối lượng) 0,036g (Không phẩy không ba sáu gam), loại: Heroin như kết luận giám định của Nguyễn Thanh L là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của nhà nước, mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý và hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra nhưng vì hám lời nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Đủ cơ sở để HĐXX khẳng định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 BLHS. Cáo trạng của VKSND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa truy tố đối với bị cáo là chính xác.

Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu

Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo HĐXX xét thấy cần áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất của vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội. Áp dụng Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán trái phép chất ma túy vì mục đích lợi nhuận nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS, phạt bổ sung một khoản tiền nộp vào Ngân sách Nhà nước đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm:

- 01 phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành chứa mẫu vật hoàn trả lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu và tiêu huỷ;

- 01 điện thoại di động hiệu GOLY màu đen đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

- Số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là tiền do phạm tội mà có nên áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; Điều 329 BLTTHS:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Nguyễn Thanh L 30 (Ba mươi) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22/02/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

Phạt bổ sung Nguyễn Thanh L số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu GOLY màu đen đã qua sử dụng và số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

- Tịch thu và tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật hoàn trả lại sau giám định.

Vật chứng của vụ án được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nông Công và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống lập ngày 28/5/2020.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc Nguyễn Thanh L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai, sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/7/2020).

Cỡ chữ