- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn T bị xét xử về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2020/HS-ST Ngày: 29-5-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Kiêm;
Ông Đỗ Việt Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Lƣơng Văn T, sinh năm 1994 tại xã XT, huyện XT, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm HD, xã XN,huyện XT, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Con ông Lương Văn V, sinh năm 1969 (đã chết) và con bà Trần Thị H, sinh năm 1973; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/02/2020 đến nay. “Có mặt”
- Bị hại:
1. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1958 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp cho bị hại đã chết:
Bà Lương Thị X, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Xóm 12, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định. “Vắng mặt”
Chị Trần Thị T2, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Xóm 12, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định. “Vắng mặt”
Đại diện theo ủy quyền của chị Trần Thị T2 là bà Lương Thị X theo Văn bản ủy quyền ngày 21/02/2020.
2. Anh Ngô Văn T3, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Xóm 10, xã XT, huyện XT, tỉnh Nam Định. “Vắng mặt”
- Người làm chứng:
Bà Trần Thị H, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Xóm HD, xã, XT, huyện XT, tỉnh Nam Định. “Có mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 29/12/2019, Lương Văn T có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream không gắn biển kiểm soát, phía sau chở anh Ngô Văn T3, sinh năm 1995, trú tại: Xóm 10, xã XT, huyện XT, tỉnh Nam Định đi trên Quốc lộ 21, theo hướng từ xã Hải Nam đến xã Hải Hưng, huyện Hải Hậu. Khi đến khu vực xóm 9, xã Hải Hưng, do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi liền trước nên phần bánh trước, ống giảm xóc bên trái bánh trước xe mô tô của T điều khiển đã va chạm vào phần mặt ngoài ốc hãm trục bánh sau bên phải, trục bàn đạp bên phải, mặt ngoài đầu tấm chắn bùn phía sau bánh trước của xe đạp do ông Trần Văn T1, sinh năm 1958, trú tại: xóm 12, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định điều khiển đi cùng chiều phía trước khiến ông Tương, anh Thẩm và T bị ngã ra đường. Hậu quả: Ông T1 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện quân đội 108, đến 10 giờ 15 phút ngày 30/12/2020 thì tử vong; anh T3 bị vỡ xương trán hai bên, chấn thương hàm mặt, gãy xương hàm trái khối mũi sàng hai bên, được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Việt Đức Hà Nội; T bị xây xước vùng mặt và đầu được đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Hải Hậu; xe mô tô và xe đạp bị hư hỏng.
Khám nghiệm hiện trƣờng:
Hiện trường không còn nguyên vẹn, nạn nhân đã được đưa đi cấp cứu. Hướng khám nghiệm chợ Trâu (xã Hải Nam) - chợ Cầu (xã Hải Hưng). Điểm mốc là tâm độ mở đường vào xóm 9, xã Hải Hưng nằm phía bên phải đường. Mép đường chuẩn là mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm. Mặt đường nhựa bằng phẳng, rộng 8m00, tâm vạch kẻ đường cách mép phải 4m10, lề trái rộng 1m80, lề phải rộng 1m60, phần đường dành cho xe thô sơ, người đi bộ bên phải rộng 1m00.
- Vị trí xe mô tô Dream không gắn biển kiểm soát nằm nghiêng phải trên mặt đường nhựa, đầu hướng chợ Trâu, đuôi hướng chợ Cầu. Trục bánh trước cách điểm mốc 96m và cách mép đường chuẩn 0m80 (về phía chợ Cầu) chiếu thẳng vuông góc. Trục bánh sau cách mép đường chuẩn 0m10.
- Vị trí xe đạp nằm nghiêng phải trên mặt đường nhựa, đầu xe hướng phía chợ Trâu, đuôi xe hướng về phía chợ Cầu. Trục bánh trước cách mép đường chuẩn 1m90 và cách mốc 97m90 về phía chợ Cầu (chiếu thẳng vuông góc). Trục bánh sau cách mép đường chuẩn 2m40.
- Vị trí đám vết cày đứt quãng trên mặt đường nhựa dài 16m90 chiều hướng chợ Trâu - Chợ Cầu, rộng 2cm, sâu 0,2cm. Tâm điểm đầu cách mép đường chuẩn là 0m85 và cách điểm mốc là 80m20 về phía chợ Cầu. Tâm điểm cuối nằm tại mặt ngoài, điểm cuối của ống xả xe mô tô tì xuống mặt đường nằm tại mép đường bên phải.
- Vị trí khoảng nhựa vỡ màu nâu; kính nhựa màu trắng, vàng, đỏ; dép màu xanh trên mặt đường nhựa trong diện (22 x 5)m. Tâm cách mép đường chuẩn là 2m50 và cách điểm mốc là 90m về hướng chợ Cầu.
- Vị trí nạn nhân được xác định là ông Trần Văn Tương, sinh năm 1958, ở xóm 12, xã Hải Hưng, huyện Hải Hậu. Vị trí nạn nhân theo mô tả của nhân chứng nằm sấp trên mặt đường nhựa. Đầu hướng trái đường, chân hướng phải đường. Tâm đầu cách mép đường chuẩn 4m10 và cách mốc 99m80 về phía chợ Cầu (chiếu thẳng vuông góc).
Khám nghiệm phƣơng tiện:
* Xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream không gắn biển kiểm soát: Cụm đèn chiếu sáng phía trước bị tuột rời khỏi vị trí ban đầu; Mặt kính nhựa, mặt tráng gương, mặt nạ phía trước, 1/2 ốp nhựa tay lái về phía bên trái, 02 kính nhựa cụm đèn chuyển hướng bên trái bị vỡ rời; Cụm công tắc điều khiển, đầu tấm chắn bùn phía trước bánh trước bị nứt vỡ; Mặt ngoài phía bên phải tấm nhựa tráng gương và mặt ngoài ốp nhựa tay lái phía bên phải có đám vết mài, trên bề mặt có bám dính bụi đất; Đầu nắm tay lái cao su bên phải, đầu núm tay phanh, mặt ngoài ống giảm xóc phía bên trái bánh trước có vết mài, vết rách, vết mòn vẹt lộ ánh kim; Phần tay lái bên phải, giá để chân hai bên người điều khiển bị đẩy dồn theo chiều từ trước về sau; mặt ngoài cuối ống xả có vết mài lộ ánh kim không rõ chiều hướng kích thước (4 x 1)cm.
* Xe đạp nữ màu trắng- xanh- đỏ: Giỏ đựng đồ phía trước bị đẩy dồn từ phải sang trái 1 góc 100 so với vị trí ban đầu; Mặt ngoài đầu núm cao su tay lái bên phải có vết mài trượt từ trên xuống dưới kích thước (1,5 x 2)cm; Mặt ngoài đai ốp kim loại phanh hãm bên phải có đám vết mài lộ ánh kim kích thước (1,5 x 1,2)cm, trên bề mặt có bám dính chất thô màu trắng; Đầu tấm chắn bùn phía sau bánh trước áp sát vào bánh xe; trục bàn đạp bên phải bị đẩy dồn từ sau về trước một góc 300 so với vị trí ban đầu; mặt ngoài đầu tấm chắn bùn phía sau bánh trước và gọng kim loại gắn giữa tấm chắn bùn với trục bánh xe có đám vết mài trượt chiều hướng từ trên xuống dưới, từ sau về trước kích thước (6 x 6)cm, trên bề mặt có bám dính chất thô màu đen.
Quá trình điều tra, T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình và cùng với gia đình tự nguyện khắc phục bồi thường thiệt hại cho gia đình ông Trần Văn T1 số tiền 40.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự và có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Anh Ngô Văn T3 bị thương tích nhưng xin tự khắc phục hậu quả, không có yêu cầu, đề nghị gì về phần dân sự.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 79/19/TT ngày 31/12/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Trần Văn Tương là: Chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ vùng giữa chẩm.
Tại bản kết luận giám định thương tích số: 90/20/TgT ngày 20/4/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Ngô Văn Thẩm là 70%.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐG ngày 03/3/2020 của Hội đồng định giá huyện Hải Hậu kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, không gắn biển kiểm soát là 1.750.000 đồng; Giá trị thiệt hại của xe đạp là: 50.000 đồng.
Cáo trạng số 32/CT-VKSHH ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Lương Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
- Bị hại là anh Ngô Văn T3 và bà Lương Thị X là đại diện hợp pháp của bị hại Trần Văn T1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Xuân Ninh, huyện Xuân Trường giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự các bên đã tự nguyện thống nhất giải quyết xong với nhau về dân sự nên không đề cập giải quyết. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Phần tranh luận tại phiên tòa: Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xác nhận Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, bị cáo ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đã chết, bị hại Thẩm không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt. Tuy nhiên hồ sơ vụ án thể hiện đầy đủ lời khai của họ trong quá trình điều tra. Việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án do đó căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
Lời khai nhận của bị cáo Lương Văn T tại phiên toà phù hợp với các chứng cứ như: Lời khai của bị có tại cơ quan điều tra; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản khám nghiệm tử thi; Bản giám định pháp y; Lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại đã chết, bị hại Ngô Văn T3, người làm chứng và các tài liệu khác đã được lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 29/12/2019, Lương Văn T, có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream không gắn biển kiểm soát phía sau chở anh Ngô Văn T3 đi trên Quốc lộ 21, theo hướng từ xã Hải Nam đến xã Hải Hưng, huyện Hải Hậu. Khi đi đến khu vực xóm 9, xã Hải Hưng, do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi liền trước nên đã va chạm với xe đạp do ông Trần Văn T1 điều khiển đi cùng chiều phía trước. Hậu quả: Ông T1bị thương và tử vong ngày 30/12/2019 do chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ vùng giữa chẩm; anh T3 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 70%.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo Lương Văn T thì thấy: Bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định, là người đủ khả năng nhận thức được rằng, khi điều khiển phương tiện giao thông, nếu không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ thì sẽ dễ gây ra tai nạn dẫn đến hậu quả và hệ lụy khôn lường. Quá trình điều khiển xe mô tô do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước xe của mình nên đã xảy ra va chạm và gây hậu quả nghiêm trọng làm chết 01 người và gây thương tích cho 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 70% là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến sự an toàn của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được Nhà nước và pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an xã hội. Xét thấy cần phải xử lý nghiêm nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo Lương Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện khắc phục thiệt hại cho gia đình bị hại, cùng lo tổ chức mai táng cho bị hại đã chết nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, đại diện hợp pháp của bị hại Trần Văn T1 và anh Ngô Văn T3 có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có nhân thân tốt, bản thân từ trước tới nay luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người công dân, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Xét hoàn cảnh gia đình có bố mất sớm cũng như bản thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thấy cần cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự cũng đảm bảo mục đích của hình phạt như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình ông Trần Văn T1 số tiền 40.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì thêm về phần dân sự. Anh Ngô Văn T3 bị thương tích nhưng xin tự khắc phục hậu quả, không có yêu cầu, đề nghị gì về phần dân sự nên về phần trách nhiệm dân sự Hội đồng xem xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Chiếc xe đạp là tài sản của ông Trần Văn Tương, xe bị thiệt hại không đáng kể, đại diện hợp pháp của người bị hại xin tự khắc phục và không yêu cầu Lương Văn T phải bồi thường nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho đại diện gia đình ông Tương là phù hợp. Còn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, không gắn biển kiểm soát là của anh Lê Văn T4, sinh năm 1992, ở xóm 3, xã Xp, huyện XT, do T mượn để đi lại. Hiện anh T4 không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tách tài liệu có liên quan đến chiếc xe trên để xác minh, xử lý sau.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lương Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29-5-2020).
Giao bị cáo Lương Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã Xuân Ninh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đối với bị cáo Lương Văn T theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 09/2020/HSST-LCĐKNCT ngày 25/5/2020.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Lương Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại Ngô Văn T3 và đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện + tỉnh: 02 bản; - Công an huyện Hải Hậu: 02 bản; - UBND xã XN: 01 bản; - Thi hành án HS: 01 bản; - Bị cáo: 01 bản; - Bị hại: 02 bản; - Lưu hồ sơ vụ án: 02 bản; - Lưu VP: 01 bản. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHI N TOÀ Phạm Thúy Nga |