vanban.org

Bản án 34/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 24/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trương Văn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong nên không đặt vấn đề để giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2020/HS-ST
Ngày: 24/7/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Phước Tâm

2. Bà Hồ Thị Mai Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hòa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Trƣơng Văn S, sinh năm 1975; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: An Giang; Nơi ĐKHKTT: Ấp A, xã P, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở: như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ; Con ông: Trương Văn Đ, sinh năm: 1935 (chết); Con bà: Trương Thị S, sinh năm 1943 (chết); Họ tên vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1980; Có 02 người con sinh năm 2005 và 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Áp dụng biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại: Nguyễn Thị N - sinh năm 1950 (đã chết);

- Người đại diện hợp pháp của bị hại gồm:

+ Trần Ngọc A - sinh năm 1976, cư trú: ấp A, xã P, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

+ Trần Minh P - sinh năm 1980; cư trú: ấp B, xã H, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

+ Trần Quốc C - sinh năm 1981, cư trú: ấp A, xã P, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

+ Trần Kim T - sinh năm 1986; cư trú: Ấp A, xã B, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

+ Trần Minh H - sinh năm 1990; cư trú: ấp A, xã P, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

+ Trần Hữu N - sinh năm 1992; cư trú: ấp A, xã P, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

(Người đại diện theo ủy quyền của anh P, anh C, T, H và N là Trần Ngọc A theo văn bản ủy quyền ngày 17/4/2020), anh Trần Ngọc A có mặt tại phiện tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị L - sinh năm 1980; cư trú: Ấp A, xã P, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

- Người làm chứng:

+ Nguyễn Văn Th - sinh năm 1988; cư trú: Ấp A, xã P, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

+ Trần Thị Mộng C - sinh năm 1989; cư trú: Ấp A, xã P, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

+ Trần Văn V - sinh năm 1992; cư trú: Khóm A, Phường B, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 40 phút ngày 25/02/2020, Trương Văn S điều khiển xe môtô biển số 66L7-1748 trên Quốc Lộ 30 theo hướng thành phố Cao Lãnh đi huyện Thanh Bình. Khi đang điều khiển trên đoạn đường thuộc ấp 3, xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh thì nge có người gọi uống cà phê nên S quay mặt sang lề trái, khi quay lại nhìn phía trước thì phát hiện bà N cách xe khoảng 04m, do khoảng cách gần nên không xử lý kịp dẫn đến bánh xe trước đụng vào cẳng chân trái bà Nguyễn Thị N, (ngụ ấp A, xã P, huyện Cao Lãnh) đang đi bộ ngang đường, xe của S bị ngã và bà N bị té xuống đường được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp đến 09 giờ 20 phút cùng ngày thì tử vong.

Vật chứng tạm giữ: xe môtô hiệu Kozumi, số máy 0004434, số khung 61B-04434, biển số 66L7-1748, màu đen, dung tích xylanh 107 cc cùng giấy đăng ký xe tên Nguyễn Thị Liên.

Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 10 giờ 10 phút ngày 25/02/2020 của Công an huyện Cao Lãnh, thể hiện như sau: mặt đường rộng 07m, chọn lề đường bên trái hướng thành phố Cao Lãnh đi huyện Thanh Bình là lề chuẩn, vùng va chạm có kích thước 0,45 m x 0,40m, tâm vùng va chạm vào lề chuẩn là 4,70m.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 203/KL-KTHS ngày 09/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận nạn nhân Nguyễn Thị N bị đa chấn thương, trong đó chấn thương vùng đầu làm nứt sọ dẫn đến dập và xuất huyết hai bên bán cầu đại não là nguyên nhân tử vong.

Đại diện hợp pháp bị hại là anh Trần Ngọc A yêu cầu bị cáo S bồi thường chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và các chi phí khác với số tiền 35.000.000 đồng. Bị cáo S thống nhất và đã bồi thường xong. Đại diện hợp pháp bị hại cũng làm đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo S.

Đối với xe môtô hiệu Kozumi, số máy 0004434, số khung 61B-04434, biển số 66L7-1748, màu đen do vợ bị cáo S tên Nguyễn Thị L đứng tên sở hữu, nay chị yêu cầu nhận lại.

- Tại Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 23/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Trương Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo S và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 260 Bộ luật hình sự 2015; điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 38 của Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Trương Văn S với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường tất cả các khoản thiệt hại tổng cộng 35.000.000 đồng, bị cáo S đã bồi thường được xong, phía bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản nào phù hợp theo quy định của pháp luật, do đó đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này. Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên như phần Quyết định của bản cáo trạng đã nêu.

* Bị cáo Trương Văn S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát đã công bố, lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và hòa nhập với cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trương Văn S đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 23/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Do bị cáo S điều khiển xe biển số 66L7-1748, dung tích xylanh 107 cc nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định, trên Quốc Lộ 30 thuộc ấp 3, xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh theo hướng thành phố Cao Lãnh đi huyện Thanh Bình, khi đến địa phận ấp 3, xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh không chú ý quan sát tầm nhìn phía trước khi bị hại Nguyễn Thị N đi bộ từ lề phải sang lề trái qua đường dẫn đến bánh xe trước đụng vào cẳng chân trái bà Nguyễn Thị N làm bà N tử vong. Hành vi của S đã vi phạm điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ; khoản 9 Điều 8; khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản hiện trường xảy ra vụ tai nạn, kết luận giám định pháp y và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Trương Văn S đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giao giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

……

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) …;

Xét hành vi của bị cáo Trương Văn S: Khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Mặc dù, bị cáo nhận thức rõ việc điều khiển xe mô tô khi chưa được cấp giấy phép lái xe là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã điều khiển xe không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, cụ thể là bị cáo đã điều khiển xe không chú ý quan sát để giảm tốc độ khi nhìn thấy phía trước có người, đây là nguyên nhân chính gây ra tai nạn giao thông. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tâm lý người dân khi tham gia giao thông, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo S một mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình của người bị hại và được người đại diện hợp pháp của người bị hại làm đơn bãi nại và không yêu cầu xử lý hình sự cho bị cáo, tại phiên tòa ngày hôm nay, đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S; về nhân thân, bị cáo xuất thân là thành phần nhân dân lao động, chưa có tiền sự, tiền án, gia đình của bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn về kinh tế có xác nhận của chính quyền địa phương, người bị hại cũng có một phần lỗi đi bộ qua đường không đảm bảo an toàn giao thông. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 54 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 35.000.000 đồng. Bị cáo S đã bồi thường xong số tiền 35.000.000 đồng theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo S bồi thường thêm bất cứ khoản nào phù hợp theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe môtô hiệu Kozumi, số máy 0004434, số khung 61B-04434, biển số 66L7-1748, màu đen, dung tích xylanh 107 cc cùng giấy đăng ký xe tên Nguyễn Thị Liên, xét thấy cần trao trả lại cho chị Nguyễn Thị Liên (hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh đang quản lý).

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm do bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trương Văn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong nên không đặt vấn đề để giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Giao trả lại cho chị Nguyễn Thị L chiếc xe môtô hiệu Kozumi, số máy 0004434, số khung 61B-04434, biển số 66L7-1748, màu đen, dung tích xylanh 107 cc cùng giấy đăng ký xe tên Nguyễn Thị L (hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh đang quản lý).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lãnh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh).

- Về án phí: Áp dụng Điều 12, khoản 1 và khoản 3 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Trương Văn S không phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ