- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức TH - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2020/HSST Ngày 14/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Phán.
- Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Quang Miên, bà Trần Thị Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 7 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 32/2020/HSST ngày 25/6/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo: Trần Đức Th, sinh năm 1990. Nơi sinh và cư trú: Thôn QT, xã VĐ, thành phố TB, tỉnh TB; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức Th1 và bà Nguyễn Thị Ng; vợ: Lường Thị Ú, có hai con sinh năm 2012 và 2014.Tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Ngày 16/8/2018, Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Trộm cắp tài sản" (bị cáo chấp hành xong).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/5/2020, hiện đang tạm giam tại Trại tạm Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt.
* Người làm chứng:
Anh Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Thôn N, thị trấn LC, huyện CG, tỉnh HD. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 13 giờ ngày 12/5/2020, Trần Đức Th đi xe ôtô Bus đến khu vực cổng phụ khu công nghiệp Visip thuộc địa phận xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương mua của một người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) 01 gói ma túy Heroine với số tiền 500.000 đồng. Th cất gói ma túy vào cạp quần đang mặc, rồi đi xe Bus về thôn Năm, thị trấn
Trang 1 Lai Cách, huyện Cẩm Giàng. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi Th đang đi bộ trên đường trong thôn Năm, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương thì bị Công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương kiểm tra, bắt quả tang Trần Đức Th đang cất giấu 01 túi ni lon bên trong là gói giấy bạc màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng trong cạp quần đang mặc trên người. Th khai nhận cất giấu ma túy Heroine để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số: 221/KLGĐ-PC09 ngày 15/5/2020, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng ghi thu của Trần Đức Th, gửi đến giám định có khối lượng là: 0,328 gam là ma túy, loại Heroine.
Quá trình điều tra: Bị cáo thành khẩn khai báo, nhận hành vi phạm tội.
Tại bản Cáo trạng số: 33/CT-VKS ngày 23/6/2020, VKSND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Trần Đức Th phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình thừa nhận có cất giấu 01 gói ma túy, loại Heroine để sử dụng.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Đức Th phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án. Xử phạt bị cáo Trần Đức Th từ 13 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 15/5/2020.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu, tiêu hủy 0,282g Hroine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số: 221/KLGĐ-PC09.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự là 200.000 đồng.
Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
. Về nội dung vụ án:
Trang 2
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 12/5/2020, tại đường trong thôn Năm, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Trần Đức Th có hành vi cất giấu trái phép 0,328 gam ma túy, là loại Hroine trong cạp quần đang mặc với mục đích để sử dụng, thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức việc cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Nên hành vi cất giấu trái phép 0,328 gam ma túy, là loại Hroine của bị cáo, để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an trên địa bàn địa phương. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có. Nhưng năm 2018 bị cáo bị xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, HĐXX xem xét khi lượng hình.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhưng xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, buộc bị cáo phải chấp hành tù có thời hạn.
.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
.Về vật chứng: 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau khi giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
.Về các vấn đề khác:
Người đàn ông bán ma túy cho Th nhưng không làm rõ tên, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.
Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
Trang 3
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ Áp dụng:
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Trần Đức Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Trần Đức Th 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 15/5/2020.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì thư cùng mẫu vật hoàn lại sau giám định số: 221/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương, còn nguyên niêm phong.
(Vật chứng theo Biên bản bàn giao giữa Công an huyện Cẩm Giàng và Chi cục THA DS huyện Cẩm Giàng ngày 07/7/2020).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Trần Đức Th nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Cơ quan THA hình sự-Công an tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ. Trang 4 | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thiện Phán |