- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị Kim H đối với anh Lý Hồng Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2020/HNGĐ-ST Ngày: 17-7-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lâm Thị Tám
2. Bà Lý Thị Đào
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 99/2020/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2020 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 55/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Kim H, sinh năm 1989
Địa chỉ: Số 466, ấp X, thị trấn D, huyện Th, tỉnh Hậu Giang (có đơn xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Lý Hồng Đ, sinh năm 1985
Địa chỉ: Số 154, ấp G, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Bùi Thị Kim H đề ngày 23 tháng 3 năm
2020 và biên bản lấy lời khai ngày 01 tháng 6 năm 2020 có nội dung sau:
Chị Bùi Thị Kim H và anh Lý Hồng Đ hai người xây dựng hôn nhân vào năm 2011 và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện Th, tỉnh Hậu Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 114/2011, ngày 14 tháng 10 năm 2011.
.
Thời gian chung sống chị H và anh Đ có một người con chung là cháu Lý Hồng F, sinh ngày 11/02/2012, hiện con đang sống với chi H.
Về tài sản chung và nợ chung, chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung.
Chị H cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu Thuẫn, thường xuyên cãi vả với nhau do tính tình vợ chồng không hợp. Chị cho rằng vợ chồng sống không có tình cảm với nhau thì không thể có hạnh phúc với nhau được nên chị và anh Đ hai người sống ly thân nhau từ năm 2017 đến nay.trong thời gian sống ly thân chị và anh Đ cũng không có biện pháp gì để hàn gắn vợ chồng trở lại nên chị H yêu cầu được ly hôn đối với anh Đ. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Lý Hồng F đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung chị H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H thì anh Đ đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và thông báo triệu tập anh Đ đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Đ không đến Toà án hòa giải và cũng không có văn bản gởi cho Tòa án biết về ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị Ha. Do vậy, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do chị Ha cung cấp và do Tòa án thu thập được để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Kim H được quyền ly hôn với anh Lý hồng Đ.
Về con chung, tiếp tục giao cháu Lý Hồng F, sinh ngày 11/02/2012 cho chị H được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và anh Đ được quyền thăm nom con không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu,nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Đương sự chịu án phí theo qui định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Chị Bùi Thị Kim H khởi kiện yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với anh Lý Hồng Đ và hiện nay anh Đ cư trú tại ấp G, xã Gia V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện T thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét thấy anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như triệu tập tham gia phiên tòa nhưng anh Đ đều vắng mặt và nguyên đơn cũng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Đ và Kim H tại phiên tòa.
Về nội dung: Chị Bùi Thị Kim H và anh Lý Hồng hai người chung sống với nhau vào năm 2011 và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện Th, tỉnh Hậu Giang, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 114 ngày 14 tháng 10 năm 2011 nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét lý do yêu cầu xin ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử thấy rằng, sau khi kết hôn chị H và anh , thời gian ban đầu vợ chồng sống hạnh phúc chung lo làm ăn ổn định cuộc sống gia đình, nhưng thời gian không bao lâu thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vả với nhau, chị Ha thấy vợ chồng sống mà không có sự hài hòa thì không thể có hạnh phúc được, xét thấy những mâu thuẫn hàng ngày trong gia đình, vợ chồng không có biện pháp khắc phục mà để cho mâu thuẫn kéo dài ngày thêm trầm trọng, dẫn đến không khả năng sống đoàn tụ trở lại và hiện tại chị H và anh Đ hai người sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Cũng trong quá trình giải quyết vụ án thì anh Đ cũng biết được việc chị H yêu cầu ly hôn đối với Đ, nhưng anh Đ không có thiện chí hàn gắn lại vợ chồng nên anh Đ không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải để tìm biện pháp hàn gắn trở lại. Từ nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị H và anh Đ hai người sống ly thân nhau khá lâu, về mặt tình cảm vợ chồng thật sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đến mức trầm trọng nên việc chị H yêu cầu xin ly hôn đối với anh Đ là cần thiết. Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị Kim H đối với anh Lý Hồng Đ là có căn cứ đúng pháp luật.`
Về con chung, chị H yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Lý Hồng F, sinh ngày 11/02/2012 đến tuổi trưởng thành, xét yêu cầu được nuôi con của chị Ha cũng phù hợp vì hiện nay con đang sống với chị H và cháu F có nguyện vọng được sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Từ phân tích trên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi con của chị H là có căn cứ đúng pháp luật. Giao cho chị H tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Lý Hồng F, sinh ngày 11/02/2012 đến đủ 18 tuổi.
Anh Lý Hồng Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung và anh Đ không thể hiện tranh chấp về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình, Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Bùi Thị Kim H phải chịu án phí theo qui định pháp luật là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Các quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa, như đã phân tích, là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ pphí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội và mục A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016):
Áp dụng Khoản 1 Điều 56, và các Điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị Kim H đối với anh Lý Hồng Đ. Chị Bùi Thị Kim H được ly hôn với anh Lý Hồng Đ.
2. Về con chung: Giao chị Bùi Thị Kim H tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung Lý Hồng F, sinh ngày 11/02/2012 đến đủ 18 tuổi trưởng thành.
Anh Lý Hồng Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu..
4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định không có và không yêu cầu, anh Đ không thể hiện có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét.
5. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình, chị Bùi Thị Kim H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Chị H đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000259 ngày 21 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Sóc Trăng, được chuyển thu án phí.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện T; - THADS huyện T; - UBND tt D, huyện Th, Hậu Giang; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | Nguyễn Văn Út |