vanban.org

Bản án 34/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị N là vợ chồng.

Về con chung: Ông Lê Văn C được trực tiếp nuôi con chung tên Lê Đức M, sinh ngày 28/5/2003. Bà Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Nguyễn Thị N có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bà N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Văn C "Tranh chấp ly hôn" với Nguyễn Thị N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị N là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 10- 3- 2020
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Rạt

2. Ông La Văn Việt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Ngày 10 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1971.

Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973

Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Lê Văn C trình bày:

Ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị N sống chung từ năm 1991, không đăng ký kết hôn. Cuộc sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ, không tìm được tiếng nói chung. Ông bà đã ly thân từ năm 2005 đến nay. Nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống nên ông C yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng với bà N.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông C, bà N có 02 con chung tên Lê Minh Đ, sinh năm 1992, hiện đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết và Lê Đức M, sinh ngày 28/5/2003. Khi ly hôn, ông C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lê Đức M, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà N thống nhất với lời trình bày của ông Lê Văn C về thời gian chung sống; thời gian mâu thuẫn; thời gian ly thân và con chung.

Nay cuộc sống chung không thể tiếp tục, ông C yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng giữa bà với ông C, bà đồng ý.

Về con chung: Thống nhất với lời trình bày của ông C về con chung tên Lê Minh Đ, sinh năm 1992, hiện đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn con chung tên Lê Đức M, bà đồng ý để ông C được tiếp tục nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Do công việc nhiều, không có thời gian đi lại Tòa án nên bà N yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Bà N cam kết không khiếu nại về sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Lê Văn C nộp đơn khởi kiện ly hôn với bà Nguyễn Thị N có địa chỉ tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Về phạm vi giải quyết của Hội đồng xét xử: Theo đơn khởi kiện và các lời trình bày tiếp theo của ông C thì ông C chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà N. Ngoài ra các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông C.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị N đều thống nhất trình bày hai bên sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1991 cho đến nay không đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa ông C và bà N không có giá trị pháp lý, không được pháp luật công nhận là vợ chồng theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Việc sống chung giữa ông C và bà N không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo Điều 14 của Luật hôn nhân gia đình. Căn cứ Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử không công nhận ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị N là vợ chồng.

Về con chung: Ông C và bà N thống nhất có 02 con chung tên Lê Minh Đ, sinh năm 1992, hiện đã trưởng thành và Lê Đức M, sinh ngày 28/5/2003. Khi ly hôn, ông C được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lê Đức M, bà N không phải cấp dưỡng nuôi con. Thỏa thuận trên phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị N thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị N thống nhất không có.

Về án phí: Nguyên đơn ông Lê Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà ông C đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 14, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị N là vợ chồng.

2. Về con chung: Ông Lê Văn C được trực tiếp nuôi con chung tên Lê Đức M, sinh ngày 28/5/2003. Bà Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Nguyễn Thị N có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bà N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì ông C có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Ông C cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bà N trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì ông C, bà N, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí: Ông Lê Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà ông C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004723 ngày 18/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ. Ông Lê Văn C đã nộp đủ án phí.

Ông Lê Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị N vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ