- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con giữa chị T và anh T"
- Tòa quyết gì? tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2020/HNGĐ-ST Ngày: 13 - 8 - 2020 “V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Thanh Chúc
2. Ông Lê Văn Được
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Tấn An - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 282/2020/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng
5 năm 2020 về việc tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 48/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/7/2020 và Quyết định
hoãn phiên tòa số 18/2020/QĐST-HNGĐ ngày 27/7/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Thị T, sinh năm 1997 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/5/2020, các lời khai cũng như tại phiên tòa
hôm nay nguyên đơn Phạm Thị T trình bày và có yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Vào năm 2016 chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Hoàng T tự
nguyện xác lập hôn nhân, đến tháng 3 năm 2017 có đăng ký kết hôn tại UBND xã
H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Quá trình chung sống hạnh phúc không lâu thì phát
sinh nhiều mâu thuẫn luôn xảy ra bất hòa, do anh T thay đổi tính tình không
chăm lo làm ăn mà thường vui chơi đánh bạc với bạn bè không lo gia đình, chị T
có nhiều lần khuyên nhưng tính tình anh T không thay đổi nên chị T về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 10 năm 2017 đến nay mà không hàn gắn được. Do đó, chị T thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.
- Về nuôi con tên: Nguyễn Nhật M, sinh ngày 21/10/2017, hiện chị T đang
nuôi dưỡng nên chị T yêu cầu được quyền nuôi con khi ly hôn.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung của vợ chồng và số nợ phải thu,
phải trả: Chị T không tranh chấp, không khởi kiện.
Ngoài ra, chị T không có yêu cầu nào khác.
Bị đơn Nguyễn Hoàng T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Quá trình giải
quyết anh Nguyễn Hoàng T không cung cấp chứng cứ và không có lời khai nộp cho Tòa án.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Về thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án,
xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần phiên họp, thành phần hòa giải và thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều thực hiện đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ, hợp lệ cho các đương sự, tuy nhiên việc chấp hành pháp luật của anh Nguyễn Hoàng T là chưa đúng.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81
của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị T được ly hôn với anh T. Giao con chung tên Nguyễn Nhật M, sinh ngày 21/10/2017 cho chị T được quyền nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản và số nợ phải thu phải trả các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét. Về án phí hôn nhân sơ thẩm buộc chị T phải nộp 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án huyện Cầu Ngang nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Xét thấy anh Nguyễn Hoàng T là bị đơn trong vụ
án đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Tân theo quy định pháp luật.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét đơn của chị Phạm Thị T khởi
kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T và yêu cầu nuôi con chung khi ly hôn, ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác. Căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp giải quyết luật là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn:
- Về hôn nhân: Xét thấy giữa chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Hoàng T
chung sống có đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại UBND xã H, huyện C đúng quy
định pháp luật. Căn cứ vào Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình xác định hôn
nhân của chị T và anh T là hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Chị T khai quá trình chung sống giữa chị T và
anh T luôn xảy ra bất hòa, do anh T thay đổi tính tình không chăm lo làm ăn mà
thường vui chơi đánh bạc với bạn bè không lo gia đình, chị T có nhiều lần
khuyên nhưng anh T không thay đổi nên chị về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 10
năm 2017 đến nay. Trong thời gian sống riêng chị có tạo điều kiện để hàn gắn
nhưng không có kết quả.
Đối với anh Nguyễn Hoàng T đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ
án nhưng anh T không cung cấp chứng cứ, không có lời khai để nộp cho Tòa án
xem xét; nhiều lần anh T không đến tham dự phiên hòa giải mà không có lý do
nên không tiến hành hòa giải được và xét thấy việc vắng mặt anh T thể hiện
không có thiện chí hàn gắn hôn nhân với chị T.
Qua đó, xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T phát sinh từ tháng 10
năm 2017 đến nay, giữa anh chị không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không
hàn gắn được, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc nên yêu
cầu giải quyết cho chị ly hôn với anh T. Hội đồng xét xử nhận định, mâu thuẫn
giữa chị T và anh T ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài,
mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân
và gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
- Về nuôi con: Chị T yêu cầu được quyền nuôi con tên Nguyễn Nhật M,
sinh ngày 21/10/2017.
Xét thấy, thời gian chị T và anh T sống riêng thì cháu M do chị T trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T đảm bảo cuộc sống của con ổn định về vật chất, tinh
thần và anh T cũng không có ý kiến tranh chấp về việc nuôi con. Do đó, Hội
đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu
Nguyễn Nhật M cho chị T được quyền nuôi con khi ly hôn là đảm bảo cuộc sống
của con và phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung của vợ chồng và số nợ phải thu,
phải trả: Xét thấy trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết các đương sự
không tranh chấp, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Phạm Thị T phải nộp 300.000
đồng theo quy định pháp luật.
Xét trình bày của Kiểm sát viên về trình tự thủ tục tố tụng và quan điểm
giải quyết vụ án là phù hợp quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228,
khoản 4 Điều 147, Điều 235, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia
đình.
Căn cứ khoản 05 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị T.
- Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.
- Về nuôi con: Chị Phạm Thị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng con tên Nguyễn Nhật M, sinh ngày 21/10/2017 khi ly hôn.
Anh Nguyễn Hoàng T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được
quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Phạm Thị T phải nộp 300.000 (Ba trăm
nghìn) đồng nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0008628, ngày 27 tháng 5 năm 2020 do chị Thi nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu. Chị T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo:
+ Chị Phạm Thị T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án.
+ Anh Nguyễn Hoàng T vắng mặt tại phiên toà nên có quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện C; - CCTHADS huyện C; - UBND xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |