- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của chị Huỳnh Thị A; Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 144/2019/DS-ST ngày 28-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2020/DS-PT Ngày 05-3-2020 V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Tiên.
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Bình;
Bà Nguyễn Thị Thúy Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh: Bà Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 27 tháng 02 và ngày 05 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 459/2019/TLPT-DS ngày 31 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 144/2019/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 36/2020/QĐPT-DS ngày 10 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị M, sinh năm 1974; Địa chỉ: xã Th, huyện T, tỉnh Tây Ninh. – Có mặt.
2. Bị đơn: Chị Huỳnh Thị A, sinh năm 1988; Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1988; Địa chỉ: xã Th, huyện Ch, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của anh L: Chị Huỳnh Thị A, sinh năm 1988, nơi cư trú: xã Th, huyện T, tỉnh Tây Ninh (Theo văn bản ủy quyền ngày 07/10/2019). – Có mặt.
3. Người kháng cáo: bị đơn chị Huỳnh Thị A
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 8 năm 2019, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Do có quan hệ quen biết, chị A có tham gia dây hụi 2.000.000 đồng mở ngày 15-3-2015 (AL) do chị làm chủ thảo. Hụi gồm 20 phần, chị A tham gia 01 phần, mỗi tháng khui hụi 01 lần vào ngày 15 âm lịch hàng tháng. Kết thúc hụi ngày 15-10-2016 (AL) nhằm ngày 15-10-2016 (DL). Đến kỳ thứ 3 mở ngày 15-5-2015 (AL) chị A hốt hụi được 25.250.000 đồng. Ngày 25/5/2015(AL), chị A anh L nhận tiền và ký tên vào giấy nhận tiền hụi. Anh L chị A phải góp cho chị 17 kỳ mỗi kỳ 2.000.000 đồng nhưng từ sau khi hốt hụi anh L chị A không góp hụi lại cho chị kỳ nào, chị phải góp thay cho chị A và anh L. Nay chị khởi kiện yêu cầu chị Huỳnh Thị A và anh Nguyễn Hoàng L hoàn trả cho chị 34.000.000 đồng tiền hụi chị đã góp thay 17 kỳ mỗi kỳ 2.000.000 đồng; không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn chị Huỳnh Thị A, anh Nguyễn Hoàng L trình bày:
Chị thống nhất với lời trình bày của chị M về việc tham gia hụi. Chị hốt hụi vào kỳ thứ 3 ngày 15-5-2015 (AL) được 25.250.000 đồng. Thực tế chị M có giao tiền hụi cho chị 20.000.000 đồng, còn 5.250.000 đồng chị và chị M thỏa thuận trả tiền hụi của dây hụi 500.000 đồng cho mẹ ruột của chị là bà Huỳnh Thị Ga. Việc dùng 5.250.000 đồng để trả nợ hụi cho bà Ga là do chị tự nguyện. Chị xác định chữ ký và họ tên trong giấy nhận tiền hụi lập ngày 25/5/2015 âm lịch là do vợ chồng chị tự nguyện ký tên xác nhận. Sau khi hốt hụi chị và anh L đã góp tất cả các kỳ hụi còn lại cho chị M nên chị và anh L không đồng ý trả cho chị M 34.000.000 đồng theo yêu cầu khởi kiện của chị M.
Tại bản án sơ thẩm số 144/2019/DS-ST ngày 28-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh quyết định:
- Áp dụng Điều 116, Điều 117 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị M đối với chị Huỳnh Thị A, anh Nguyễn Hoàng L. Buộc chị Huỳnh Thị A, anh Nguyễn Hoàng L có nghĩa vụ trả cho chị Phan Thị M 34.000.000 đồng tiền hụi.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
* Nội dung kháng cáo: Theo đơn kháng cáo đề ngày 04-12-2019 của chị Huỳnh Thị A, kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc chị và anh L hoàn trả 34.000.000 đồng.
Ý kiến Kiểm sát viên:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng qui định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo luật Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa phúc thẩm dân sự.
- Về việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: Đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội qui phiên tòa.
- Về nội dung: Nhận thấy chị M khởi kiện yêu cầu chị A trả 34.000.000 đồng tiền hụi chết còn nợ. Chị M cho rằng chị đã góp thay cho chị A và nhiều lần yêu cầu chị A anh L trả nhưng không trả nên chị khởi kiện. Chứng cứ chị M cung cấp là giấy nhận tiền hốt hụi, đây không phải là chứng cứ chứng minh chị Ần và anh L còn nợ hụi chết của chị M. Bởi hụi mãn ngày 14-11-2016 nhưng chị M không cung cấp chứng cứ chứng minh đã đòi nhiều lần hay giấy gút nợ; Chị Ần trình bày đã góp hụi chết đầy đủ, mặc dù không có chứng cứ chứng minh nhưng phù hợp với thực tế. Hơn nữa theo quy định tại Điều 9 của Nghị định số 144, chủ hụi có nghĩa vụ lập sổ hụi, nội dung sổ phải có nội dung hụi viên góp hụi có chữ ký và điểm chỉ. Danh sách hụi viên do chị M cung cấp không thể hiện nôi dung trên. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của chị A. Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị M và chị A đều xác nhận, chị A, anh L tham gia dây hụi 2.000.000 đồng do chị M làm chủ thảo. Dây hụi mở ngày 15/3/2015 (AL), kết thúc hụi ngày 15/10/2016 (AL); gồm 20 phần, chị A anh L tham gia 01 phần và đã hốt hụi ở kỳ thứ 03 ngày 15/5/2015 (AL) với số tiền 25.250.000 đồng. Như vậy giữa các đương sự không có tranh chấp về thời điểm mở hụi, kết thúc hụi và số phần hụi. Ngoài ra trong hồ sơ thể hiện, chị M cung cấp được tài liệu thể hiện danh sách hụi viên, trong đó thể hiện tên từng hụi viên, từng kỳ hốt hụi và số tiền hốt hụi. Chị A và anh L hốt hụi có ký tên nhận tiền hụi. Như vậy chị M đã thực hiện đúng quy định tại Điều 9 của Nghị định số 144.
Chị A cho rằng chị A, anh L đã góp hụi đầy đủ cho chị M cho đến khi mãn hụi nhưng chị M không thừa nhận, chị A không cung cấp được chứng cứ mới để chứng minh cho kháng cáo của chị là có cơ sở. Việc chị M và chị A, anh L không thực hiện việc gút hụi không phải chứng cứ để chứng minh chị A, anh L đã góp hụi. Do đó, kháng cáo và đề nghị của Kiểm sát viên không được chấp nhận. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định tranh chấp giữa các bên là tranh chấp về hụi là đúng nhưng không áp dụng các quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ – CP ngày 27-11-2006 về họ, hụi, biêu, phường mà áp dụng Điều 116, Điều 117 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự là không chính xác cần điều chỉnh lại cho phù hợp.
[3] Về án phí phúc thẩm: Chị Huỳnh Thị A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm do kháng cáo của chị A không được chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của chị Huỳnh Thị A; Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 144/2019/DS-ST ngày 28-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ Điều 30 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006; Điều 26, Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị M đối với chị Huỳnh Thị A, anh Nguyễn Hoàng L về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”
Buộc chị Huỳnh Thị A, anh Nguyễn Hoàng L có nghĩa vụ trả cho chị Phan Thị M 34.000.000 đồng (Ba mươi bốn triệu đồng).
Ghi nhận chị Phan Thị M không yêu cầu tính lãi tiền hụi góp thay.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Huỳnh Thị A và anh Nguyễn Hoàng L phải chịu 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm ngàn đồng).
Hoàn trả cho chị Phan Thị M 1.114.000 đồng (Một triệu một trăm mười bốn ngàn đồng) theo biên lai thu số 0015768 ngày 26 tháng 8 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Tây Ninh.
3. Án phí dân sự phúc thẩm:
Chị Huỳnh Thị A phải chịu 300.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm chị A đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000097 ngày 04-12-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị A đã nộp xong khoản tiền này.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh; - TAND H.; - Chi cục H; - Phòng KTNV; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | (Đã ký) Nguyễn Thị An Tiên |