- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh T và Hoàng Công D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 - Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh T và Hoàng Công D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34 /2019/HS-ST Ngày 06 - 8 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Quàng Văn Trường
Nơi công tác: Liên đoàn lao động huyện NP
- Ông Hạng A Sáng
Nơi công tác: Đoàn thanh niên CSHCM huyện NP
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Thành Công - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên; mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 37/2019/TLST-HS ngày 04/7/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2019/QĐXXST-HS ngày 24/7/2019 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Mạnh T (Tên gọi khác: Nguyễn Minh T); Sinh năm: 1992 tại huyện V, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Xóm 3, Đ, xã G, huyện V, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Bảo vệ kho bạc Nhà nước huyện NP; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Tiến D (Đã chết) và con bà: Đinh Thị H, sinh năm: 1965; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 02/5/2019, theo lệnh truy nã, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện NP, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
2. Hoàng Công D; Sinh ngày 30/10/2002 tại huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản NH 1, xã NH, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn T, sinh năm: 1974 và con bà: Hà Thị H, sinh năm: 1981; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Ngày 19/12/2018 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo được tại ngoại (Có mặt).
* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Hoàng Công D: Bà Hà Thị H là mẹ đẻ của bị cáo Dung. Nơi cư trú: Bản NH 1, xã NH, huyện NP, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
* Người bào chữa: Ông Phùng Việt Hoa – Là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Điện Biên được trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Điện Biên chỉ định bào chữa cho bị cáo Hoàng Công D.
Địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn MC, huyện MC, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 10 phút, ngày 16/12/2018, tổ công tác Công an huyện NP làm nhiệm vụ tại trung tâm huyện NP phát hiện tại phòng số 5, nhà khách Ủy ban nhân dân huyện NP có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã vào kiểm tra phát hiện trong phòng có 03 đối tượng đang chuẩn bị sử dụng chất ma túy. Qua đấu tranh các đối tượng đã khai nhận là Nguyễn Mạnh T sinh năm 1992, công tác tại kho bạc Nhà nước huyện NP; Phạm Thùy T, sinh năm 2001, trú tại bản NH 1, xã NH, huyện NP; Hoàng Công D, sinh ngày 30/10/2002, trú tại bản NH 1, xã NH, huyện NP. Dung và Trang được Nguyễn Mạnh T rủ xuống trung tâm huyện NP để sử dụng ma túy.
Khi thấy tổ công tác vào phòng Hoàng Công D đã bỏ gói ma túy vào miệng và nuốt. Nguyễn Mạnh T cũng khai nhận Dung vừa nuốt gói ma túy T vừa đưa cho Dung vào bụng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP đã đưa Hoàng Công D lên Trung tâm y tế huyện NP tiến hành gây nôn để lấy vật Dung đã nuốt ra. Đến khoảng 03 giờ ngày 17/12/2018 Dung đã nôn ra vật đã nuốt là 01 gói nilon màu hồng, mở bên trong là một gói nilon màu trắng chứa 12 viên nén màu hồng, mỗi viên có ký hiệu WY là ma túy tổng hợp Methamphetamine là của Dung, do T đưa cho Dung để sử dụng cùng với T và Trang.
Đối với Nguyễn Mạnh T và Phạm Thùy T do chưa xác định được vật chứng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP đã tạm thời cho về và hẹn 07 giờ ngày 17/12/2018, có mặt tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP để làm việc. Sau khi nghe tin Hoàng Công D đã nôn ra gói ma túy, Nguyễn Mạnh T đã bỏ trốn khỏi cơ quan, nơi làm việc, không rõ đi đâu.
Ngày 18/12/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi tạm trú của Nguyễn Mạnh T tại Kho bạc Nhà nước huyện NP, tỉnh Điện Biên, nhưng không thu giữ được tài liệu gì.
Ngày 19/12/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP đã ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Hoàng Công D.
Ngày 14/01/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP đã ra quyết định khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Mạnh T. Ngày 22/01/2019 ra Quyết định truy nã đối với Nguyễn Mạnh T,
Ngày 02/5/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP đã bắt được bị can Nguyễn Mạnh T tại xã Ông Đình, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên và ra lệnh đình nã ngày 06/5/2019.
Ngày 19/12/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng ma túy thu giữ có của Hoàng Công D, do Dung nôn ra, có tổng khối lượng là 1,14 gam.
Bản kết luận giám định số: 163/GĐ-PC09, ngày 27/12/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Hoàng Công D gửi giám định là ma túy. Loại Methamphetamine. Khối lượng vật chứng thu giữ của Hoàng Công D là 1,14 gam.
Bản cáo trạng số: 39/CT-VKSNP ngày 04/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên đã truy tố các bị can Nguyễn Mạnh T và Hoàng Công D về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/ BLHS.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Mạnh T và Hoàng Công D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên các bị cáo Nguyễn Mạnh T và Hoàng Công D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
Áp dụng Điều 17, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, khoản 1, 6 Điều 91, Điều 98, khoản 1 Điều 101 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Hoàng Công D mức án tứ 09 đến 12 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,95 gam Methamphetamine của các bị cáo, sau khi trừ mẫu gửi giám định và 01 vỏ chai nước lọc, 01 ống hút nước nhựa màu vàng.
Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Công D.
Bị cáo Nguyễn Mạnh T phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Mạnh T và Hoàng Công D thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Ông Phùng Việt Hoa là người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo Hoàng Công D nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật, ông không có ý kiến gì. Bị cáo Hoàng Công D thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn non nớt, chưa làm chủ được bản thân, bị người khác rủ rê, lôi kéo. Gia đình bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng, được Nhà nước thưởng Huy chương Chiến sỹ vẻ vang Hạng nhì và Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước Hạng ba. Bị cáo Dung là đồng phạm với vai trò không đáng kể trong vụ án. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; khoản 1, 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Công D mức án từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cho bị cáo theo quy định, để tạo điều kiện cho Dung tiếp tục đi học phổ thông. Đồng thời xem xét hoàn cảnh gia đình, bị cáo đang là học sinh, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Công D do là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Hành vi phạm tội của các bị cáo:
Hồi 23 giờ 10 phút, ngày 16/12/2018, tổ công tác Công an huyện NP đã bắt quả tang Nguyễn Mạnh T sinh năm 1992, công tác tại kho bạc Nhà nước huyện NP; Phạm Thùy T, sinh năm 2001, trú tại bản NH 1, xã NH, huyện NP; Hoàng Công D, sinh ngày 30/10/2002, trú tại bản NH 1, xã NH, huyện NP đang tụ tập chuẩn bị sử dụng ma túy tại phòng số 5, nhà khách Ủy ban nhân dân huyện NP. Khi thấy tổ công tác vào phòng Hoàng Công D đã bỏ gói ma túy vào miệng và nuốt vào bụng. Dung và Trang khai nhận được Nguyễn Mạnh T rủ xuống trung tâm huyện NP để sử dụng ma túy. Bị cáo T cũng khai nhận Dung vừa nuốt gói ma túy T vừa đưa cho Dung vào bụng. 12 viên ma túy tổng hợp trên mỗi viên có ký hiệu WY là Methamphetamine do T mua của Nguyễn Văn Hoàn trú tại bản NH 3, xã NH, huyện NP với số tiền là 1.000.000đ (Một triệu đồng). Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP đã đưa Hoàng Công D lên Trung tâm y tế huyện NP tiến hành gây nôn để lấy vật Dung đã nuốt ra. Đến khoảng 03 giờ ngày 17/12/2018 Dung đã nôn ra vật đã nuốt là 01 gói ni lông màu hồng, mở bên trong là một gói ni lông màu trắng chứa 12 viên nén màu hồng, mỗi viên có ký hiệu WY.
Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của các bị cáo T, Dung tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy HĐXX kết luận các bị cáo Nguyễn Mạnh T và Hoàng Công D đã có hành vi phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt các chất ma tuý của Nhà nước và gây ảnh hưởng xấu an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình vi phạm, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Đối với bị cáo Hoàng Công D thực hiện hành vi phạm tội khi vừa 16 tuổi, 01 tháng 16 ngày. Do đó bị cáo Dung chưa đủ chín chắn nhận thức về tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm. Bị cáo thực hiện hành vi tẩu tán 1,14 gam Methamphetamine bằng cách nuốt gói ma túy vào bụng nhưng bị cáo không lường trước được việc làm đó có thể nguy hiểm đến tính mạng của bản thân. Hành vi của các bị cáo T, Dung đã đi ngược lại với đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc cấm trồng, sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Đánh giá vai trò của từng bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có tổ chức vì không có sự câu kết chặt chẽ giữa các bị cáo; bị cáo Nguyễn Mạnh T với vai trò khởi xướng, thực hành tích cực; bị cáo Dung là đồng phạm với vai trò không đáng kể trong vụ án. Vì vậy đối với bị cáo T mức hình phạt sẽ cao hơn so với bị cáo Dung.
Về nhân thân:
Bị cáo Nguyễn Mạnh T từ nhỏ được bố mẹ cho ăn học đến lớp 12/12, đến tháng 4 năm 2015 được tuyển dụng làm bảo vệ Kho bạc Nhà nước huyện NP, tỉnh Điện Biên. Do không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân và thiếu ý thức chấp hành phấp luật nên đã phạm tội trong vụ án này.
Bị cáo Hoàng Công D bản thân là học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông huyện NP đang theo học kỳ 1 lớp 11 ngày 16/12/2018 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cùng với bị cáo Nguyễn Mạnh T. Bị cáo Hoàng Công D là người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Do hiểu biết pháp luật hạn chế, nhận thức chưa đầy đủ nên bị cáo đã có hành vi phạm tội trong vụ án này.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Nguyễn Mạnh T, Hoàng Công D chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Nguyễn Mạnh T có bố đẻ là Nguyễn Tiến Hồng là người có công với Cách mạng, tham gia giúp Cách mạng Cam Pu Chia và được Nhà nước thưởng Huân Chương chiến công Hạng Nhất. Đây là những tình tiết để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Mạnh T theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Tuy nhiên sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn để trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật và bị bắt theo lệnh truy nã. Việc bị cáo T bỏ trốn đã gây khó khăn trong công tác điều tra làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này.
Bị cáo Hoàng Công D là người dưới 18 tuổi, đến ngày 16/12/2018 Dung vừa đủ 16 tuổi, 01 tháng 16 ngày; Bị cáo Dung có ông ngoại là người có công với cách mạng, được Nhà nước thưởng Huân chương Kháng chiến Hạng Ba và Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì. Bị cáo Dung thực hiện hành vi phạm tội do bị rủ rê, lôi kéo; nhận thức pháp luật còn hạn chế, chưa đầy đủ, cần áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51/BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Vậy hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra; Đồng thời góp phần đẩy lùi tội phạm ma tuý, giữ vững kỷ cương của pháp luật và nhằm răn đe, phòng ngừa chung trong nhân dân.
Đối với bị cáo T cần cách ly ra khỏi đờì sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và gia đình;
Đối với bị cáo Dung có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xă hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách theo quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 60/BLHS là phù hợp.
Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản phù hợp với kết quả nghị án của Hội đồng xét xử.
Xét đề nghị của vị luật sư đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hoàng Công D theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Căn cứ Điều 17, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65; khoản 1, 6 Điều 91, Điều 98; Điều 101 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Công D mức án từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, để tạo điều kiện cho Dung tiếp tục đi học phổ thông. Cần được xem xét để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là người dưới 18 tuổi.
Đánh giá về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, không có ai khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không phải xem xét.
Về hình phạt bổ sung:
Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo T còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, nhưng xét thấy bị cáo T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành nên HĐXX không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Công D là người dưới 18 tuổi.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ:
Theo lời khai của bị cáo Nguyễn Mạnh T, 12 viên Methamphetamine do T mua của Nguyễn Văn Hoàn, trú tại bản NH 3, xã NH, huyện NP. Tại cơ quan điều tra Hoàn không thừa nhận đã bán ma túy cho T. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, không có cơ sở để xem xét và xử lý đối với Nguyễn Văn Hoàn.
Đối với Phạm Thùy T trú tại bản NH 1, xã NH, huyện NP là người được T rủ xuống trung tâm huyện NP sử dụng ma túy, theo lời khai của Hoàng Công D, Dung và Trang góp 350.000đ đưa cho T trả tiền mua ma túy. Qua điều tra, đối chất Trang không thừa nhận được góp 50.000đ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP không đủ cơ sở xem xét xử lý đối với Trang.
Đối với Nguyễn Văn Hoàn, trú tại bản NH 3, xã NH, huyện NP, theo lời khai của Nguyễn Mạnh T, đã mua 12 viên Methamphetamine với giá 1.000.000đ của Hoàn. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP đã cho đối chất với T, nhưng Hoàn không thừa nhận được bán ma túy cho T nên không đủ cơ sở để xem xét xử lý đối với Nguyễn Văn Hoàn vì vậy không đặt vấn đề xử lý trong vụ án này.
Về vật chứng vụ án:
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS, cần tuyên tịch thu tiêu hủy đối với: 0,95 gam Methamphetamine (Sau khi đã trừ mẫu gửi giám định) cùng 01 phong bì cũ, 02 mảnh giấy ni lông cũ và 01 vỏ chai nước lọc, 01 ống hút nhựa màu vàng.
Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14:
Bị cáo Nguyễn Mạnh T phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Hoàng Công D là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định của Chính phủ nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1 - Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh T và Hoàng Công D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T 20 (Hai mươi) tháng tù, kể từ ngày bắt: 02/5/2019.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65; khoản 1, 6 Điều 91; Điều 98 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Hoàng Công D 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Công D cho UBND xã NH, huyện NP, tỉnh Điện Biên và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2 - Xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,95 gam Methamphetamine (Sau khi trừ mẫu gửi giám định) cùng 01 phong bì cũ, 02 mảnh giấy nilon cũ và 01 vỏ chai nước lọc, 01 ống hút nhựa màu vàng, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/7/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NP.
3 - Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:
Bị cáo Nguyễn Mạnh T phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Hoàng Công D được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo, người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Hoàng Công D và người bào chữa biết, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo ; - Người bào chữa; - Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Dung; - CQĐT Công an huyện NP; - Nhà tạm giữ Công an huyện NP; - CQTHAHS huyện NP; - Phòng KTNV và THA Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện NP; - PC 81 CA tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện NP; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Vàng Thị Dua |