- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn V, tên gọi khác: Phạm Văn X phạm tội: Đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Tỉnh Điện Biên Bản án số: 34/2019/HSST Ngày 16 tháng 8 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN
-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ích Rồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Giàng A Chu
2. Ông Lường Văn Hưởng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa:Ông Ngô Hoài Ngân, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 34/2019/HSST, ngày 01 tháng 8 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2019/QĐXXST – HS ngày 05 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Phạm Văn V.Tên gọi khác: Phạm Văn X, sinh năm: 1961, Tại: huyện K, tỉnh T; ĐKHKTT: Bản B, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên; Cư trú tại: Bản B, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; con ông: Phạm Văn C, sinh năm 1923 và bà Mai Thị L, sinh năm 1929; Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1961 và 2 người con, con lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1988; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; tạm giữ từ ngày 14/5/2019 đến ngày 16/5/2019 thì áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày xét xử; Có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Lò Văn T, sinh năm 1994
Cư trú: Bản P, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên
Vắng mặt tại phiên tòa
2. Quàng Văn T1, sinh năm 1984
Cư trú: Bản P, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên
Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 14/5/2019, Phạm Văn V đã có hành vi ghi số lô, số đề trái phép tại nhà ở Bản B, xã Ẳ, huyện M cho nhiều người chơi. Những người chơi trúng lô, đề theo kết quả mở thưởng cùng ngày của xổ số Miền Bắc, mỗi cặp số đề trúng thưởng là hai số cuối của giải đặc biệt, người chơi trúng đề được trả tiền theo tỷ lệ là 1 được trả 65 lần. Mỗi cặp số lô trúng thưởng là hai số cuối của tất cả các giải thưởng, một điểm lô là 24.000đ, người chơi trúng một điểm lô thì được trả 80.000đ, nếu người chơi trúng nhiều hai số cuối có giải thưởng thì người chơi được cộng thêm số lần điểm lô đã trúng nhân với 80.000đ. Người chơi đánh ba chữ số mà ba chữ số đó trúng với ba chữ số cuối của giải đặc biệt thì được trả tiền theo tỷ lệ 1 được trả 350 lần; Người chơi đánh xiên ba cặp số mà cả ba cặp số lô trúng với ba cặp số cuối của các giải thưởng thì được trả tiền theo tỷ lệ 1 được trả 40 lần; Người chơi đánh bốn cặp số lô mà trúng bốn cặp số cuối của các giải thưởng thì được trả theo tỷ lệ 1 được trả 80 lần. Tất cả những người chơi do V ghi số lô, đề mà trúng thưởng thì Phạm Văn V có trách nhiệm trả trực tiếp cho người đó. Trong khoảng thời gian từ 16 giờ đến 17 giờ, ngày 14/5/2019 Phạm Văn V đã ghi số lô, đề cho nhiều người nhưng không biết tên và địa chỉ được tổng số tiền là: 3.754.000đ; đến 17 giờ 10 phút ngày 14/5/2019 Lò Văn T và Quàng Văn T1 đến ghi lô, đề với Phạm Văn V, V đã trực tiếp ghi vào cáp là một mảnh giấy kích thước 5,8 cm x 3,4cm cho T với các cặp số lô là 31,81,25 và 62, mỗi cặp là 30 điểm với cặp số đề số 59 với số tiền 100.000đ; Tổng cộng T phải trả cho V số tiền đã ghi là: 2.980.000đ; V tiếp tục ghi vào tờ giấy có kích thước 5,2 cm x 3,8 cm cho T1 với các cặp số lô là 48, 32, 56, 66 và 76, mỗi cặp số là 20 điểm và 1 cặp số đề 54 với số tiền là 100.000đ; Tổng cộng T1 phải trả cho V số tiền đã ghi là: 2.500.000đ. Khi V ghi các số lô, đề vào bảng kê xong thì giao các cáp lô và đề cho T và T1, đồng thời T và T1 giao tiền cho V. V đang đếm tiền do T và T1 giao cho thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Ảng phát hiện bắt quả tang. Công an huyện Mường Ảng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 9.234.000đ, bảng kê ghi số lô, đề và các cáp lô, đề đã ghi cho T và T1, 01 chiếc bút bi và 01 chiếc kéo bằng kim loại.
Tại phiên tòa, Bị cáo Phạm Văn V khai nhận đánh bạc bằng hình thức ghi lô, đề cho nhiều người trước đó không biết tên tuổi ở đâu với số tiền là: 3.754.000đ, khi ai trúng lô, đề mang cáp đến thì V có trách nhiệm trả tiền theo tỷ lệ đã quy ước. sau đó ghi lô, đề cho T và T1 được số tiền là 5.480.000đ; Tổng cộng số tiền ghi lô, đề là: 9.234.000đ ( 3.754.000đ + 5.480.000đ) như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số 30/CT – VKS MA, ngày 30/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Phạm Văn V về tội " Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội: Đánh bạc; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo: 20.000.000đ đến 25.000.000đ; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 9.234.000đ; Tịch thu để tiêu hủy: 01 chiếc bút bi và 01 chiếc kéo bằng kim loại. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.
Lời nói sau cùng, Phạm Văn V nhận phạm tội “ Đánh bạc” và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận vào ngày 14/5/2019 đã đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, đề trái phép tại gia đình ở Bản B, xã Ẳ, huyện M cho nhiều người bị cáo không biết tên, địa chỉ với số tiền là 3.754.000đ, sau đó ghi lô, đề với Lò Văn T và Quàng Văn T1 với số tiền là: 5.480.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là: 9.234.000đ (3.754.000đ + 5.480.000đ). Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 20 phút ngày 14/5/2019 đối với Phạm Văn V.
Do đó, hành vi của Phạm Văn V đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, đề trái phép với nhiều người để được thua bằng Tiền; Tổng số tiền bị cáo V ghi lô, đề trái pháp luật là 9.234.000đ; do chưa đến giờ công bố kết quả xổ số Miền Bắc thì bị bắt nên xác định số tiền tham gia đánh bạc là 9.234.000đ; Hành vi của bị cáo V đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Phạm Văn V đã phạm tội“ Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đã gây ra cho xã hội.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có anh ruột là liệt sỹ được nhà nước tặng huy chương chiến sỹ giải phóng nên Hội đồng xét xử xem xét là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, gia đình luôn đạt gia đình văn hóa nên có nhân thân tốt. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt chính là tiền cũng đủ dăn đe bị cáo.
Ngoài hình phạt chính, bị cáo là người về hưu với mức lương hưu thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
[ 2] Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng: Cần tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền: 9.234.000đ do bị cáo phạm tội mà có. 01 chiếc bút bi để ghi số lô, đề và 01 chiếc kéo bằng kim loại để cắt giấy ghi lô đề không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
[ 3] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[ 4] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự nên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng là có cơ sở pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
[ 6] Đối với Lò Văn T và Quàng Văn T1 có hành vi đánh bạc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an đã xử phạt hành chính. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn V, tên gọi khác: Phạm Văn X phạm tội: Đánh bạc.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Phạm Văn V: 20.000.000 đồng ( hai mươi triệu đồng). Thời hạn nộp là 3 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Số tiền phạt nộp một lần để sung ngân sách nhà nước.
2. Vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền: 9.234.000đ( chín triệu hai trăm ba mươi bốn ngàn đồng);Tịch thu để tiêu hủy: 01 chiếc bút bi và 01 chiếc kéo bằng kim loại.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Phạm Văn V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bản án được thi hành theo điều 2 luật thi hành án dân sự; người phải thi hành án về khoản tiền phạt, tiền án phí nếu không tự nguyện thi hành án sẽ bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
4.Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T và anh T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại UBND xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên. - VKSND tỉnh Điện Biên. - VKSND huyện Mường Ảng. - Cơ quan điều tra huyện Mường Ảng. - THAHS huyện Mường Ảng. - THADS huyện Mường Ảng - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên. - Bị cáo. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký ) Phan Ích Rồng |