- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2019/HS-ST Ngày: 24-9-2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Ánh Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Tám – Cán bộ hưu trí;
2. Ông Nguyễn Hữu Phúc – Cán bộ Phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã Cai Lậy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Bà Trần
Thị Thảo Vân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/TLST- HS ngày 08 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2019/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 9 năm 2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh N; sinh năm 1983; Nơi sinh: tỉnh Tiền Giang; Đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp P, xã Q, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: làm hồ; Trình độ văn hóa: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị H; Bị cáo không có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 05/3/2019 chuyển tạm giam ngày 11/3/2019 đến nay và mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1955. Có mặt.
Hộ khẩu thường trú: ấp Phú Hưng, xã Phú Quý, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 04/3/2019, Công an thị xã Cai Lậy phối hợp cùng công an xã Phú Quí, thị xã Cai Lậy tiến hành kiểm tra điểm game bắn cá đặt tại nhà Nguyễn Thanh N tại ấp Phú Hưng, xã Phú Quý, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang bắt quả tang Nguyễn Thanh N có hành vi cất giấu 02 đoạn ống mũ màu trắng được hàn kín 02 đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thanh N khai nhận bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2018. Nguồn ma túy thu giữ vào ngày 04/3/2019 là của 01 đối tượng tên Tuấn (bị cáo quen biết qua mạng xã hội) bán cho bị cáo với giá 400.000 đồng vào khoảng 16 giờ cùng ngày, bị cáo cất giấu ma túy vào trong 01 ví da màu nâu đựng trong túi quần phía sau đang mặc trong người rồi đi về nhà chưa kịp sử dụng thì bị bắt giữ.
Kết luận giám định số 30/KLGĐ-PC09 ngày 07/3/2019 của của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang xác định: mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 02 đoạn ống mũ màu trắng (kí hiệu 04) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,1753 gam loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 35/CT-VKSTXCL ngày 07/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố Nguyễn Thanh N ra trước Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy để xét xử về tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Thanh N khai nhận: ngày 04/3/2019, bị cáo mua chất ma túy của một người tên Tuấn tại chân cầu Mỹ Quý và cất giấu trong ví da đem về nhà chưa kịp sử dụng thì bị Công an thị xã Cai Lậy khám xét thu giữ. Bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo: xin Hội đồng xét xử cho bị cáo cơ hội sớm về với gia đình.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn Đ trình bày: bản thân ông hành nghề chạy xe hon da khách, do trước đây bị cáo N có đi xe của ông còn thiếu tiền không trả nên ngày 04/3/2019 ông không có chở N đi đến gần cầu Mỹ Quý như lời N khai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Cai Lậy giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N từ 12 tháng đến 18 tháng tù;
+ Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 ví da màu nâu và 01 bì thư niêm phong ký hiệu vụ số 30/4 ngày 07/3/2019 có dấu tròn của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, có chữ ký của Nguyễn Thiên Trường, Nguyễn Thị Kiều Linh, Đặng Nhựt Khuynh.
+ Trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thanh N và tiền Việt Nam 140.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
2
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh:
Lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh N tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Cai Lậy lập ngày 04/3/2019.
Mẫu tinh thể rắn màu trắng đựng bên trong 02 đoạn ống mũ màu trắng thu giữ vào ngày 04/3/2019 được Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang tiến hành giám định và xác định là ma túy có tổng khối lượng 0,1753 gam loại Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự địa phương.
Bị cáo Nguyễn Thanh N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà bị cáo cố ý thực hiện.
Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố bị cáo N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông nội là Liệt sỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Thời gian qua tình hình nghiện hút, tiêm chích và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra phức tạp, nhất là đối với tầng lớp thanh thiếu niên đang là mối quan tâm, lo lắng của toàn xã hội; ma túy đã làm băng hoại thân thể, nhân cách và giống nòi, là
3
nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm. Đối với hành vi cất giấu chất ma túy trái phép để sử dụng của Nguyễn Thanh N cần xử phạt nghiêm khắc.
Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tự cải tạo bản thân thành công dân biết tôn trọng pháp luật; Đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm tương tự.
Vật chứng thu giữ:
+ 01 bì thư niêm phong ký hiệu vụ số 30/4 có dấu tròn của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang bên trong có chứa khối lượng ma túy còn lại sau khi giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ 01 ví da màu nâu bị cáo N dùng để đựng chất ma túy nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thanh N và tiền Việt Nam 140.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan tội phạm nên trả lại cho bị cáo là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2018 do bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy đã phân tích chứng cứ xác định bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo thực hiện; đề nghị xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Đối tượng tên Tuấn là người bán ma túy cho N có dấu hiệu tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng chưa xác định được nhân thân nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
4
Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/3/2019.
2/- Xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 ví da màu nâu và 01 bì thư niêm phong ký hiệu vụ số 30/4 ngày 07/3/2019 có dấu tròn của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, chữ ký của Nguyễn Thiên Trường, Nguyễn Thị Kiều Linh, Đặng Nhựt Khuynh.
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh N 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thanh N và tiền Việt Nam 140.000 đồng.
Các vật chứng nêu trên do Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/9/2019.
3/- Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4/- Quyền kháng cáo:
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã Cai Lậy; - Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy; - Sở tư pháp tỉnh Tiền Giang; - Những người tham gia tố tụng: bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. - Lưu: VT, Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HỒ THỊ ÁNH TUYẾT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 5 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ––––––––––––––––––––––––––––––– 6 |