- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Phước A, sinh năm 1996 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Phước A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 34/2019/HS-ST Ngày: 25-6-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Chân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Nhân;
2. Bà Huỳnh Xuân Thủy.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phát Huy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Khang, Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2019 tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2019 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 15/TB-TA ngày 17/6/2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Phước A, sinh năm 1996, nơi sinh: Châu Đốc - A GiAg; nơi cư trú: tổ 7, khóm M, phường V, thành phố D, tỉnh A GiAg; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phước Đ, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1961; chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/02/2019. Đến ngày 19/02/2019 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt tại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA:
- Bà Võ Thị Kim Ph, sinh năm 1997; nơi cư trú: khóm A, phường H, thành phố D, tỉnh A GiAg, vắng mặt.
- Ông Nguyễn QuAg Q, sinh năm 1995; nơi cư trú: tổ 25, khóm H, phường F, thành phố D, tỉnh A GiAg, vắng mặt.
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1959, nơi cư trú: tổ 18, khóm H, phường M, thành phố D, tỉnh A GiAg, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 13/02/2019, lực lượng Công A kiểm tra phòng trọ số 13 nhà trọ “Mỹ Hồng 1” thuộc tổ 18, khóm H, phường M, thành phố D, tỉnh A GiAg bắt quả tAg Nguyễn Phước A, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền đỏ, chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 chai nhựa hiệu Sting, trên nắp có lỗ gắn nỏ thủy tinh, 01 lỗ gắn ống hút nhựa (dụng cụ sử dụng ma túy); 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn QuAg Q.
Kết luận giám định số 36/KLGT-PC09 ngày 19/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công A tỉnh A GiAg, xác định: mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3380gam.
Ngày 19/02/2019, Cơ quA điều tra Công A Châu Đốc đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cA và Lệnh bắt tạm giam đối với Nguyễn Phước A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại Cáo trạng số 33/CT-VKS-CĐ ngày 09/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Nguyễn Phước A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến trAh luận và trong lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Trong phát biểu luận tội, Kiểm sát viên trình bày: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Ma túy là chất gây nghiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đời sống tinh thần của con người, gây nguy hiểm đến trật tự xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị A tại địa phương. Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân xấu có 01 tiền sự; Ngày 24/8/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh A GiAg áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời giA 15 tháng, được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong ngày 30/8/2017.
Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng người chung trong xã hội.
Tuy nhiên, bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác cơ quA có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, bị cáo đủ điều kiện được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và xử lý các vật chứng đã thu giữ trong vụ án theo luật định.
Đối với Ph, không biết việc A cất giấu ma túy nên không phải chịu trách nhiệm hình sự, người thAh niên (không rõ họ, tên, địa chỉ) Cơ quA điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Căn cứ các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả trAh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.
Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liêm quA bà Ph, ông Q, người chứng kiến ông D đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.
Về nội dung:
Hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo A khai, khoảng 16 giờ 00 phút ngày 12/02/2019, bị cáo đAg chơi game bắn cá tại Trung tâm thương mại phường Núi Sam thì nghe người đàn ông (không biết tên) đAg chơi game gần nói chuyện điện thoại với người khác liên quA đến việc mua bán ma túy, nên bị cáo đặt vấn đề mua ma túy thì người đàn ông này đồng ý bán 01 (một) bọc ma túy với số tiền 300.000 đồng, mục đích bị cáo mua để sử dụng. Sau khi mua số ma túy về tại nhà Trọ “Mỹ Hồng I” cất giấu và rủ Ph về ngủ cùng, đến khoảng 05 giờ ngày 13/02/2019 Công A phường Vĩnh Mỹ kiểm phát hiện bắt quả tAg bị cáo cùng tAg vật.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tAg ngày 13/02/2019, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA, người chứng kiến, Kết luận giám định số 36/KLGT-PC09 ngày 19/02/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công A tỉnh A GiAg cùng những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Từ đó, có đủ căn cứ xác định bị cáo đã có hành vi cất giấu trái pháp luật chất ma túy với khối lượng ma túy (Methamphetamine) là 0,3380gam; bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Ma túy là chất gây nghiện, là mầm mống làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác nên Nhà nước độc quyền quản lý, đồng thời nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây tác động xấu đến công tác đấu trAh phòng, chống tội phạm về ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, A toàn xã hội tại địa phương. Bên cạnh đó, bị cáo có 01 tiền sự; Ngày 24/8/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh A GiAg áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời giA 15 tháng, được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong ngày 30/8/2017. Điều này thể hiện bị cáo có nhân thân xấu nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác cơ quA có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, bị cáo đủ điều kiện được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động; xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- 01 (một) phong bì ghi niêm phong vụ số 36/KLGT-PC 09 (MT) ngày 19/02/2019, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quA Cảnh sát điều tra Công A thành phố Châu Đốc, tỉnh A GiAg và các chữ ký ghi tên Ôn Văn Th; Nguyễn Thị Mỹ H; Nguyễn Đăng Kh, đây là vật cấm lưu hành. Xét, tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) chai nhựa hiệu Sting, trên nắp chai có một lỗ gắn cái nỏ bằng thủy tinh, một lỗ gắn ống hút (dụng cụ sử dụng ma túy), không còn giá trị sử dụng. Xét, tịch thu tiêu hủy.
Những vấn đề khác: Đối với Ph, không biết việc A cất giấu ma túy nên không phải chịu trách nhiệm hình sự, người thAh niên (không rõ họ, tên, địa chỉ) Cơ quA điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Phước A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phước A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày tạm giữ 13/02/2019 (ngày mười ba tháng hai, năm hai nghìn không trăm mười chín).
Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) phong bì ghi niêm phong vụ số 36/KLGT-PC 09 (MT) ngày 19/02/2019, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quA Cảnh sát điều tra Công A thành phố Châu Đốc, tỉnh A GiAg và các chữ ký ghi tên Ôn Văn Th; Nguyễn Thị Mỹ H; Nguyễn Đăng Kh; 01 (một) chai nhựa hiệu Sting, trên nắp chai có một lỗ gắn cái nỏ bằng thủy tinh, một lỗ gắn ống hút (dụng cụ sử dụng ma túy).
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quA Điều tra - Công A thành phố Châu Đốc với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc ngày 18/3/2019).
Áp dụng Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Phước A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh A GiAg xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của Võ Thị Kim Ph, Nguyễn QuAg Q là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND thành phố; - Tòa án nhân dân tỉnh; - Sở Tư pháp; - Nhà Tạm giữ; - Phòng hồ sơ; - Chi cục THADS thành phố; - Bộ phận THA Tòa án; - UBND cấp xã nơi BC cư trú; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn QuAg Chân |