vanban.org

Bản án 34/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 09/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 19/6/2019. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V- Phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2019/HS-ST
Ngày 09-8-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Sang và bà Nguyễn Thị Hạnh Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiên - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2019, tại Hội trƣờng UBND xã Quang Trung, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2019/HSST ngày 24-7-2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 35/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn V, sinh năm 1986 tại xã M, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn C, xã M, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; Trình độ văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C (tức Nguyễn Xuân C) và bà Nguyễn Thị M (đều đã chết); tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 108/2009/HSST ngày 23/7/2009 của TAND TP Hải Phòng xử phạt Nguyễn Văn V 02 năm tù về tội “Đánh bạc”, đƣợc đặc xá ngày 30/8/2010 và chấp hành xong án phí, tiền phạt ngày 09/03/2010.

- Ngày 25/01/2017, bị Chủ tịch UBND huyện Tứ Kỳ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt ngày 07/02/2017.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/6/2019 đến ngày 21/6/2019 và chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng từ ngày 21/6/2019 đến nay, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Đặng Ngọc T, sinh năm 1987.

Trú tại: khu A, thị trấn T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

2. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1985.

3. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1986.

Đều trú tại: khu L, thị trấn T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 23 giờ, ngày 18/6/2019, tại chỗ ở của Nguyễn Văn V tại thôn C, xã M, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, Công an huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng đã bắt quả tang, thu giữ tại nền nhà nơi V ngồi 01 túi nilon màu trắng, kích thƣớc 2,5x2cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, 01 chai thủy tinh trên nắp có gắn chiếc coóng bằng thủy tinh, 01 ống hút nhựa dài 50cm. V khai là ma túy đá mua về để sử dụng.

Quá trình điều tra đã xác định: Nguyễn Văn V là đối tƣợng nghiện ma túy. Khoảng 18 giờ, ngày 18/6/2019, V đi bộ ra đƣờng thôn, sau đó đi nhờ xe máy của một ngƣời đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ sang khu vực chân cầu R, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dƣơng tìm mua ma túy tổng hợp dạng đá về sử dụng. Tại đây V gặp và mua của một ngƣời đàn ông tên T (không rõ tên tuổi, địa chỉ) 01 gói ma túy tổng hợp đƣợc đựng trong túi nilon màu trắng với số tiền 300.000 đồng, sau đó cất giấu trong túi quần đang mặc đi về nhà, khi chƣa kịp sử dụng thì bị bắt giữ.

Tại Kết luận giám định số 266/KLGĐ-PC54 ngày 21/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) mầu trắng, niêm phong trong phong bì ghi thu của Nguyễn Văn V gửi đến giám định có khối lƣợng 0,433 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản Cáo trạng số: 37/CT-VKS-TK ngày 22-7-2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Nguyễn Văn V từ 14 đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); tịch thu tiêu hủy 0,356 gam Methamphetamine do cơ quan giám định hoàn lại, 01 chai thủy tinh trên có gắn 01 coóng; 01 ống hút; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xác định do nghiện chất ma túy nên chiều tối ngày 18/6/2019 đã sang huyện Ninh Giang mua số ma túy trên về sử dụng, khi chƣa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang, công nhận quyết định truy tố về tội danh của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là đúng, bị cáo hối hận về hành vi của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ, ngày 18/6/2019, tại chỗ ở của V tại thôn C, xã M, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, Nguyễn Văn V có hành vi cất giấu trái phép 0,433 gam là ma túy, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, nhƣ quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức đƣợc ma tuý không chỉ gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính ngƣời sử dụng mà còn làm ảnh hƣởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhƣng vì mục đích sử dụng cho bản thân để thoả mãn cơn nghiện và ý thức coi thƣờng pháp luật để rồi dấn thân vào con đƣờng phạm tội. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trƣớc pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên là ngƣời có nhân thân không tốt, năm 2009 bị TAND TP Hải Phòng xử phạt 02 năm tù về tội “Đánh bạc”; năm 2017 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, tuy đã đƣợc xóa tiền án, tiền sự, nhƣng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân, tích cực rèn luyện để trở thành ngƣời có ích cho gia đình, xã hội mà lại phạm tội, chứng tỏ bị cáo rất coi thƣờng kỷ cƣơng pháp luật.

Mặc dù quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là ngƣời có công với cách mạng, đƣợc tặng thƣởng nhiều huân chƣơng nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tƣợng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,356 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là vật Nhà nƣớc cấm lƣu hành và vỏ bao bì; 01 chai thủy tinh trên có gắn 01 coóng; 01 ống hút nhựa không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Trong vụ án này, đối tƣợng tên T bán ma túy cho bị cáo, không xác định đƣợc tên, tuổi cụ thể nên Cơ quan điều tra- Công an huyện Tứ Kỳ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 19/6/2019.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.

Tịch thu tiêu huỷ 0,356 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau khi giám định, đƣợc đựng trong bì thƣ dán kín, có chữ ký và dấu niêm phong; 01 chai thủy tinh trên có gắn 01 coóng thủy tinh; 01 ống hút nhựa.

(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 25-7-2019).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ