- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyến Văn H phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự -Trả lại; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2019/HS-ST; Ngày 30/5/ 2019; |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT- THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Quyết
Bà Nguyễn Thị Mai;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh, Thư ký, Toà án nhân dân huyện Thạch Thất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất tham gia phiên tòa:
Ông Triệu Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1974 tại xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Xóm Bắc, thôn Kinh Giao, xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn Bình (Liệt sỹ) và bà Phạm Thị Mỹ, sinh năm 1953; Vợ là Nguyễn Thị Hương và 4 con lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án: Không; tiền sự: không; Tạm giữ: Từ ngày 09/01/2019 đến ngày 14/01/2019; tạm giam: Không. Danh chỉ bản số 053 do Công an huyện Thạch Thất lập ngày 10/01/2019. Có mặt.
* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị T (đã chết);
Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
1. Chị Nguyễn Thị Th , sinh năm 1984;
Trú tại: B, B, Q;
2. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1998;
3. Anh Nguyễn Tư C, sinh năm 2002;
Trú tại:Thôn 2, xã P, huyện T, thành phố H;
Người đại diện theo ủy quyển: Ông Nguyễn Phú S, sinh năm 1960
Trú tại: Trú tại:Thôn 2, xã P, huyện T, thành phố H;
Theo Biên bản lập ngày 10/01/2019.
* Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần vận tải thương mại Minh Công;
Địa chỉ: Xóm Bắc, xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Văn L
Chức vụ: Giám đốc.
*Người làm chứng: Anh Cao Bá Th, sinh năm 1990;
Trú tại: Thôn Tân Lai, xã Tân Khang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1974, trú tại: xóm Bắc, thôn Kinh Giao xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng là lái xe của Công ty cổ phần vận tải thương mại Minh Công có trụ sở tại xóm Bắc, thôn Kinh Giao, xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Ngày 08/01/2019, H được Công ty giao nhiệm vụ chở cuộn tôn sắt từ Cảng Hải Phòng đến giao cho Công ty Hưng Thịnh tại xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Sau khi chuyển hàng xong, khoảng 11 giờ ngày 09/01/2019, H điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-152.46, kéo theo sơ mi rơ móc BKS: 15R-081.14 từ trạm cân Minh Dũng ra đường tỉnh lộ 419 rẽ trái sang đường để đi về phía Quốc Oai. Trong quá trình sang đường, do điểm mù của xe và một phần không chú ý quan sát nên H không nhìn thấy bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963, trú tại thôn 2, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội đang đi xe đạp bên phải đường theo hướng Thạch Thất đi Quốc Oai nên đầu xe phía bên phải do H điều khiển đã đâm vào phía sau làm xe đạp và bà T ngã ra lề đường, bà T và xe đạp bị bánh xe phía trước bên phải chèn qua. Hậu quả: Bà Nguyễn Thị T tử vong tại chỗ.
Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 37/GĐTT-TTPY ngày 15/01/2019 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết luận: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị T do đa chấn thương (chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt, chấn thương ngực, bụng rất nặng).
Cơ quan điều tra thu giữ: 01 xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-152.46 và sơ mi rơ móc BKS: 15R-081.14, 01 đăng ký xe ô ô, 02 giấy kiểm định, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện; Giấy chứng minh thư nhân dân và giấy phép lái xe của Nguyễn Văn H; 01 xe đạp của bà Nguyễn Thị T.
Tại Quyết định xử lý vật chứng số 22 ngày 14/01/2019 và Quyết định xử lý vật chứng số 45 ngày 31/3/2019, cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty Cổ phần vận tải thương mại Minh Công xe ô tô và các giấy tờ kèm theo đã thu giữ. Trả lại cho gia đình người bị hại chiếc xe đạp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và Công ty Cổ phần vận tải thương mại Minh Công đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng). Người đại diện của người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, Người đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về kết uận định giá và các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKS –TT ngày 29 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự; điểm s,x khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật H sự; xử phạt: Nguyễn Văn H 12 -15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện của người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xét.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Thất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với, lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 09/01/2019, Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-152.46, kéo theo sơ mi rơ móc BKS: 15R-081.14 từ trạm cân Minh Dũng ra đường tỉnh lộ 419 rẽ trái sang đường để đi về phía Quốc Oai; quá trình sang đường, do không chú ý quan sát nên không nhìn thấy bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963, trú tại thôn 2 xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội đang đi xe đạp bên phải đường theo hướng Thạch Thất đi Quốc Oai nên đầu xe phía bên phải do H điều khiển đã đâm vào phía sau làm xe đạp và bà T ngã ra lề đường, bà T và xe đạp bị bánh xe phía trước bên phải chèn qua. Hậu quả: Bà Nguyễn Thị T tử vong tại chỗ. Tại thời điểm xảy ra tai nạn Nguyễn Văn H có giấy phép lái xe hạng FC và là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ Luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo theo tội danh và viện dẫn áp dụng điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông và tính mạng của người khác, làm ảnh hưởng đến an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã ra đầu thú, bị cáo có bố đẻ là liệt sỹ, tích cực bồi thường khắc phục hậu quả và gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s,x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, là con liệt sỹ có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp Điều 65 bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự của bị cáo: Người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyến Văn H phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự; điểm s,x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyến Văn H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
-Trả lại bị cáo Nguyễn Văn H 01 Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn H.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14;
Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Bị đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - CA, VKSND, THA huyện Thạch Thất; - Bị cáo, người bị hại; - UBND xã An Hưng, An Dương, Hải Phòng;; - Lưu HS, VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Thuỷ |