vanban.org

Bản án 34/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Tuyên án 28/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 363/GĐKTHS ngày 07/04/2019 (bên trong phong bì có 0,955 gam mẫu cùng vỏ bao gói mẫu) của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định hoàn trả sau giám định.

Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ B ga mini, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Vật chứng của vụ án đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 14/5/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 363/GĐKTHS ngày 07/04/2019 (bên trong phong bì có 0,955 gam mẫu cùng vỏ bao gói mẫu) của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định hoàn trả sau giám định.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2019/HS-ST
Ngày: 28 - 6 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Biền.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Chỉnh.

Ông Đào Văn Rạng.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Ông Trần Thế Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Th, huyện N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số 32/2019/TLST- HS ngày 24 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2019 đối với:

* Bị cáo: Triệu Văn B - Sinh năm 1987 tại tỉnh Nam Định.

Nơi cư trú: Xóm 5, xã Nam Hoa, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Triệu Văn B, sinh năm 1962 và Đặng Thị Th sinh năm 1965, cả hai đều làm ruộng tại xóm 5, xã Nam H, huyện Nam Tr, tỉnh Nam Định; có vợ là Đặng Thị H, sinh năm 1996 hiện ở Xóm 5, xã Nam H, huyện Nam Tr, tỉnh Nam Định; có 2 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo Triệu Văn B bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/4/2019 đến ngày 10/04/2019 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N cho đến nay; có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Triệu Văn An sinh năm 1995; Nơi ĐKHKTT: Xóm 5, xã Nam Hoa, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định; Hiện đang thi hành án tại trại cải tạo Ninh Khánh – Ninh B; vắng mặt.

Người được ủy quyền: Bà Đặng Thị Thùy, sinh năm 1965; Nơi cư trú: xóm 5, xã Nam Hoa, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

* Người làm chứng: Anh Vũ Thế Anh - Sinh năm: 1984;

Nơi cư trú: Tổ dân phố 02, thị trấn Liễu Đề, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 55 phút ngày 06 tháng 4 năm 2019, tại khu vực ngã tư chợ Liễu Đề thuộc tổ dân phố 2, thị trấn Liễu Đề, huyện N, tỉnh Nam Định. Tổ công tác của Công an huyện N phát hiện bắt quả tang Triệu Văn B, sinh ngày 05/6/1987, ở xóm 5, xã Nam Hoa, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine). Thu giữ của Triệu Văn B 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, trong có 01 túi nilông màu trắng bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. B khai nhận đó là ma túy đá mua về để sử dụng, nhưng chưa sử dụng thì bị bắt giữ. Ngoài ra thu giữ của B 01 xe máy nhãn hiệu sirius mang biển số 18B1-62199 đã cũ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã qua sử dụng có lắp thẻ sim số thuê bao 0983.829.318.Tổ công tác đã đưa Triệu Văn B cùng vật chứng thu giữ về trụ sở Công an huyện N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong gói ma túy thu giữ được của B (ký hiệu M). Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện N đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Triệu Văn B ở xóm 5, xã Nam Hoa, huyện Nam Trực thu giữ 01 bộ B ga mini.

Tại bản kết luận giám định số 363/GĐKTHS ngày 07/04/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 gói nhỏ vỏ ni lông màu trắng niêm phong ký hiệu (M) thu giữ của Triệu Văn B là ma túy, loại ma túy: Methamphetamine, khối lượng 1,000 gam.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Triệu Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và khai nhận: Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 06/4/2019, B đi xe máy xuống khu vực cổng chợ Liễu Đề, thị trấn Liễu Đề, huyện N, tỉnh Nam Định mua của một người thanh niên không biết tên, tuổi, địa chỉ nơi cư trú 600.000 đồng được 01 gói ma túy mục đích đưa về nhà để sử dụng, khi về đến khu vực ngã tư chợ thuộc tổ dân phố 2, thị trấn Liễu Đề, huyện N, tỉnh Nam Định bị lực lượng công an phát hiện bắt giữ.

Bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 24/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như tội danh và điều luật đã nêu. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Triệu Văn B từ 2 năm đến 2 năm 06 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định, trả lại chiếc xe máy sirius cho Triệu Hải An giao cho bà Đặng Thị Thùy quản lý, trả lại cho Triệu Văn B 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đen đã qua sử dụng có lắp thẻ sim số thuê bao 0983829318 của Triệu Văn B; đề nghị áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay qua xét hỏi và tranh luận bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người được ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về định tội: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo ra trước phiên toà hôm nay. Như vậy đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ 55 phút ngày 06/4/2019, tại khu vực ngã tư chợ Liễu Đề thuộc tổ dân phố 2, thị trấn Liễu Đề, huyện N, tỉnh Nam Định. Triệu Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 1,000 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết bị pháp luật cấm nhưng cố tình thực hiện tội phậm đã xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của nhà nước, trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn hoá của dân tộc. Hành vi của bị cáo đã gây nên dư luận xấu trong nhân dân ở khu vực. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai lưu động, lên án xử lý nghiêm minh là cần thiết nhằm góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm.

Như vậy hành vi mà bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Triệu Văn B không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tập trung cải tạo đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 phong bì niêm phong số 363/GĐKTHS ngày 05/4/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định hoàn trả sau giám định, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu sirius mang biển số 18B1-62199 đã cũ (của Triệu Hải An sinh năm 1995 là em ruột của Triệu Văn B) cần hoàn trả lại cho Triệu Hải An giao cho bà Đặng Thị Thùy quản lý.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đen đã qua sử dụng có lắp thẻ sim số thuê bao 0983829318, cần hoàn trả lại cho Triệu Văn B nhưng tạm giữ để đảm bảo thủ tục thi hành án thi hành án.

Đối với 01 bộ B ga mini, 01 vỏ bao thuốc là Thăng Long màu vàng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho Triệu Văn B ngày 06/4/2019 tại khu vực Cổng chợ thị trấn Liều Đề huyện N hiện chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.

Bị cáo Triệu Văn B phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; 1. Tuyên bố bị cáo Triệu Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. 2. Xử phạt bị cáo Triệu Văn B 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/4/2019. 3. Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 363/GĐKTHS ngày 07/04/2019 (bên trong phong bì có 0,955 gam mẫu cùng vỏ bao gói mẫu) của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định hoàn trả sau giám định.

Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ B ga mini, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

Vật chứng của vụ án đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 14/5/2019.

Hoàn trả 01 xe máy nhãn hiệu sirius mang biển số 18B1-62199 đã cũ (của Triệu Hải An sinh năm 1995 là em ruột của Triệu Văn B) cho anh Triệu Hải An giao cho bà Đặng Thị Thùy quản lý.

Hoàn trả 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đen đã qua sử dụng có lắp thẻ sim số thuê bao 0983829318 cho Triệu văn B nhưng tạm giữ để đảm bảo thủ tục thi hành án thi hành án. 4. Án phí: Buộc bị cáo Triệu Văn B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ