vanban.org

Bản án 34/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 23/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án là ngày 23/04/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 2015 - phạ…"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2019/HS-ST
Ngày: 23/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán sơ cấp- Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thúy Hà

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Đệ

2. Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Hùng- Thư ký Toà án nhân dân huyện C, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Huyền- Kiểm sát viên.

Ngày 23/4/2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C- Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1989; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu 6, xã M, huyện N, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Văn hóa: 12/12 ; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Bố đẻ: Trần Thanh S; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Triệu Thị Lan A, sinh năm 1995 (Đã chết); Có 03 con lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Công ty cổ phần thương mại B;

Địa chỉ: Số 87, phố X, phường Y, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn TR- Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn A- Nhân viên công ty. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn dân sự: Công ty cổ phần bột giặt và hóa chất X.

Địa chỉ: Số 18, ngõ 44, phố X, phường K, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Hữu H-Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Anh T- Trưởng phòng vân tải. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10h15' ngày 11/10/2018, Trần Văn T (có giấy phép lái xe ôtô hạng FC) điều khiển xe đầu kéo BKS 29C- 468.71 nhãn hiệu CNHTC, màu sơn bạc, kéo Rơ moóc BKS 29R- 026.12 lưu thông trên đường TS, hướng cầu vượt KC đi cầu ĐT. Khi điều khiển xe ôtô đến ngã tư giao nhau có đèn tín hiệu giao thông giữa các đường TS, đường đi QL3 và đường đi thôn E, địa phận F, C, Hà Nội đã đâm vào đuôi xe ôtô BKS 30A- 439.78, loại xe ôtô con, nhãn hiệu Lexus, màu trắng, do anh Đặng Quốc B (Sinh năm: 1987; trú tại: P, T, R, Thái Bình; có GPLX ôtô hạng B2) điều khiển phía trước cùng chiều làm xe ôtô BKS 30A- 439.78 bị hư hỏng .

Tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường bị xáo trộn do các xe không nguyên vị trí ban đầu. Cơ quan điều tra - Công an huyện C, dựng lại vị trí xe ôtô BKS 30A-439.78 và xe xe ôtô đầu kéo BKS 29C-468.71 kéo Rơ moóc BKS 29R-026.12 trên cơ sở xác định của lái xe Trần Văn T và Đặng Quốc B xác định nơi xảy ra tai nạn giao thông là đường hai chiều. Chiều cầu vượt KC đi cầu ĐT, mặt đường rải nhựa nhẵn, phẳng rộng 17,1m, gồm bốn làn đường xe chạy. Bên phải chiều cầu vượt KC đi cầu ĐT, trước khi đến ngã tư giao nhau có biển báo hiệu đường bộ "nguy hiểm ngã tư giao nhau và cấm súc vật". Khoảng mở giữa hai mỏm phân cách cứng rộng 35m. Tại các đầu đường vào khu vực ngã tư giao nhau có đèn tín hiệu giao thông. Lấy mép bên phải dải phân cách cứng bằng bê tông chia hai phần đường, chiều cầu vượt KC đi cầu ĐT làm chuẩn:

Xe ôtô đầu kéo BKS 29C-468.71 đỗ trên đường nhựa, đầu xe hướng cầu ĐT. Trục bánh trước bên trái cách mép dải phân cách làm chuẩn 1,5m, trục bánh sau bên trái cách mép dải phân cách làm chuẩn 1,9m.

Xe ôtô BKS 30A- 439.78 đỗ trên đường nhựa, đầu xe hướng cầu ĐT. Trục bánh trước bên trái cách mép dải phân cách làm chuẩn 1,55m và cách cột đèn điện T4/71 là 7,8m. Trục bánh sau bên trái cách mép dải phân cách làm chuẩn 1,27m và cách trục bánh trước bên trái xe đầu kéo BKS 29C- 468.71 là 17,1m.

Va chạm giữa xe ôtô BKS 30A- 439.78 và xe ôtô đầu kéo BKS 29C- 468.71 kéo Rơ moóc BKS 29R-026.12 để lại vùng nhựa vỡ, mảnh thủy tinh rơi rụng KT (19,9x9,2)m. Điểm gần nhất vùng nhựa vỡ, mảnh thủy tinh trùng với trục bánh trước bên phải xe ôtô BKS 30A- 439.78.

Kết quả khám dấu vết phương tiện xe ôtô đầu kéo BKS 29C- 468.71 và xe ôtô BKS 30A- 439.78 xác định: Toàn bộ phần đuôi xe ôtô BKS 30A- 439.78 có dấu vết bẹp lõm biến dạng kim loại do va chạm với chắn đà trước, ga lăng bên phải và cụm đèn chiếu sáng bên phải xe ôtô đầu kéo BKS 29C- 468.71.

Kỹ thuật an toàn xe ôtô BKS 30A- 439.78: Do xe bị hỏng trong quá trình va chạm tai nạn nên không kiểm tra được.

Kỹ thuật an toàn xe ôtô đầu kéo BKS 29C- 468.71 kéo Rơ moóc BKS 29R-026.12: Hệ thống phanh tác dụng.

Căn cứ vào sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám dấu vết các phương tiện liên quan đến tai nạn giao thụng, lời khai nhõn chứng và lời khai của bị can, bị hại thì nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thụng là do bị can Trần Văn T điều khiển xe ôtô không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Anh Đặng Quốc B điều khiển xe ôtô không có lỗi trong vụ tai nạn.

Ngày 15/11/2018 Hội đồng định giá trong tố tụng huyện C kết luận: Xe ôtô BKS 30A-439.78 bị thiệt hại 491.187.400đ ( Bốn trăm chín mốt triệu một trăm tám bảy nghìn bốn trăm đồng).

Đối với xe ôtô BKS: 30A- 439.78 đăng ký mang tên Công ty Cổ phần Thương mại B (Đ/c: 87 X, Y, Đ, Hà Nội), có tham gia bảo hiểm bắt buộc TNDS. Phần bảo hiểm các xe, các bên liên quan không yêu cầu Cơ quan pháp luật can thiệp. Ngày 17/10/2018, Cơ quan điều tra đã trao trả xe ôtô BKS 30A-439.78 cho Công ty Cổ phần Thương mại B.

Đối với xe ôtô đầu kéo BKS 29C-468.71 kéo Rơ moóc BKS 29R-026.12 đăng kí mang tên Công ty Cổ phần Bột giặt và hóa chất X; có tham gia bảo hiểm bắt buộc TNDS. Phần bảo hiểm các xe, các bên liên quan không yêu cầu Cơ quan pháp luật can thiệp. Ngày 25/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã Quyết định xử lý vật chứng, trao trả xe ôtô BKS 29C-468.71 cho Công ty Cổ phần Bột giặt và hóa chất X.

Về dân sự: Công ty Cổ phần thương mại B yêu cầu bị cáo Trần Văn T và Công ty Cổ phần Bột giặt và Hóa chất X chịu trách nhiệm sửa chữa xe ôtô BKS 30A-439.78 tại Công ty TNHH TM và DV ôtô Y (Đ/c: Tổ 7 đường I, quận H, Hà Nội). Bị cáo Trần Văn T và Công ty Cổ phần Bột giặt và Hóa chất X đã sửa chữa xe ôtô BKS 30A-439.78 nêu trên. Ngoài ra Công ty Cổ phần Bột giặt và Hóa chất X đã chi trả số tiền 20.430.000đ gồm các khoản: Chi phí kéo xe và kiểm tu xe ôtô BKS 30A-439.78 tại Công ty Cổ phần LEXUS D. Hiện Công ty Cổ phần thương mại B không yêu cầu thêm.

Tại phiên tòa,

Bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: Hồi 10h15' ngày 11/10/2018, do thiếu chú ý quan sát và không làm chủ về tốc độ nên bị cáo đã điều khiển xe đầu kéo, kéo rơ-moc đâm vào đuôi xe Lexus BKS 30A-439.78, đăng ký mang tên Công ty Cổ phần Thương mại B do anh Đặng Quốc B điều khiển khiến xe bị hư hỏng, thiệt hại 491.187.400 đồng. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo nhận lỗi, hứa sửa chữa và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, luận tội, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, giữ nguyên toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm d Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Văn T từ 12 tháng đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 24 tháng đến 28 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về phần dân sự: Các bên đã tự giải quyết và không có yêu cầu gì khác nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện C thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố.

Về hành vi và tội danh: Hồi 10h15' ngày 11/10/2018, tại ngã tư giao nhau có đèn tín hiệu giao thông giữa các đường TS, đường đi QL3 và đường đi thôn E, địa phận F, C, Hà Nội, bị cáo Trần Văn T điều khiển xe đầu kéo, kéo Rơ moóc lưu thông trên đường TS, hướng cầu vượt KC đi cầu ĐT đã đâm vào đuôi xe ôtô con, nhãn hiệu Lexus, màu trắng, đăng ký mang tên Công ty Cổ phần Thương mại B do anh Đặng Quốc B điều khiển phía trước cùng chiều làm xe ôtô con bị hư hỏng, thiệt hại 491.187.400đ ( Bốn trăm chín mốt triệu một trăm tám bảy nghìn bốn trăm đồng).

Bị cáo điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ nhưng lại thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, đã vi phạm Khoản 23 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ. Lời khai của bị cáo phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, lời khai của những người làm chứng, các tài liệu điều tra vụ án và kết quả tranh tụng công khai tại phiên toà. Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân và tiền án, tiền sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng đối với bị cáo: Không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về tội lỗi của mình theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo và bị đơn dân sự đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho người bị hại theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Người bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đây là các tình tiết để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm tài sản của người khác. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nhưng do chủ quan nên vẫn vi phạm. Trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự như đã nêu trên; Căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; Căn cứ nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy lẽ ra phải áp dụng hình phạt tù giam mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, nếu xử phạt bị cáo hình phạt tù giam cũng gây hệ lụy về mặt xã hội do gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố đẻ bị cáo chết sớm, vợ bị cáo cũng đã chết vào năm 2018, bị cáo là lao động chính, một mình nuôi mẹ già và ba con nhỏ (lớn 7 tuổi, nhỏ 3 tuổi), xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để bị cáo có cơ hội cải tạo ngoài xã hội, chăm sóc con nhỏ là thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự:

Đối với chiếc xe ô tô Lexus, là tài sản của hợp pháp của công ty Cổ phần thương mại B, công ty đã nhận lại, không yêu cầu về dân sự nên không xét.

Chiếc đầu kéo và rơ-mooc là tài sản hợp pháp của Công ty cổ phần bột giặt và hóa chất X đã được trảo trả cho, công ty đã nhận lại và không yêu cầu về dân sự nên không xét.

Cơ quan điều tra Quyết định xử lý vật chứng trao trả những chiếc xe trên cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Công ty cổ phần bột giặt và hóa chất X đã thanh toán toàn bộ tiền sửa chữa thay mới các thiết bị hư hỏng của chiếc xe Lexus do lỗi của bị cáo và không yêu cầu về dân sự đối với bị cáo trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Cần tịch thu lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 Giấy phép lái xe ô tô mang tên bị cáo Trần Văn T.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có lỗi gây thiệt hại lớn về tài sản, xét thấy nếu để bị cáo tiếp tục hành nghề lái các loại xe cơ giới được liệt kê trong giấy phép lái xe hạng FC thì có thể gây nguy hại cho xã hội. Vì vậy, cần cấm bị cáo hành nghề lái xe đối với các loại xe cơ giới được liệt kê trong Giấy phép lái hạng FC trong thời hạn 02 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo theo luật định.

Kết luận điều tra của Công an huyện C, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện C và đề nghị hình phạt áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

+ Căn cứ vào Điểm d Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

+ Căn cứ Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án là ngày 23/04/2019.

Giao bị cáo Trần Văn T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.

Cấm bị cáo hành nghề lái xe đối với các loại xe cơ giới được liệt kê trong Giấy phép lái hạng FC trong thời hạn 02 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Tịch thu lưu giữ theo hồ sơ 01 giấy phép lái xe hạng FC thu giữ của bị cáo Trần Văn T.

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn dân sự có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ