vanban.org

Bản án 34/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai Tuyên án 06/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các b cáo Hoàng Văn T, Bùi Văn H và Trần Như X ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử ph t b cáo Bùi Văn H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 11/6/2019. Xử ph t b cáo Trần Như X 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 11/6/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T và đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các b cáo Hoàng Văn T, Bùi Văn H và Trần Như X ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Ngh
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 34/2019/HS-ST
Ngày 06 - 11 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ph m Th Thu H ng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Th Huệ

Bà Nguyễn Th Ánh Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Th Thu Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Dương Th Mai Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2019, t i trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2019 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 31/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2019 đối với các b cáo:

1. Hoàng Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 04/12/1985, t i huyện Y, tỉnh Phú Thọ.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi b bắt: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Mường; Quốc t ch: Việt Nam; T giáo: Không. Con ông: Hoàng Văn T1, sinh năm 1954; Con bà Ph m Th L, sinh năm 1954, hiện đều trú t i Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai. B cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: B cáo chưa có án tích, chưa b xử lý vi ph m hành chính.

B cáo b bắt t m giữ ngày 11/6/2019, t m giam ngày 20/6/2019. Hiện b cáo đang b t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

2. Bùi Văn H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 14/01/1991, t i huyện V, tỉnh Lào Cai.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi b bắt: Tổ 1, th trấn K, huyện V, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Quốc t ch: Việt Nam; T giáo: Không; Con ông: Bùi Văn L, sinh năm 1966; Con bà: Đào Th H, sinh năm 1972, hiện đều trú t i Tổ 1, th trấn K, huyện V, tỉnh Lào Cai; Vợ: Nguyễn Th M, sinh năm 1997, hiện không biết đang ở đâu, làm gì; B cáo có 01 con sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: B cáo chưa có án tích, chưa b xử lý vi ph m hành chính.

B cáo b bắt t m giữ ngày 11/6/2019, t m giam ngày 20/6/2019. Hiện b cáo đang b t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

3. Trần Như X (tên gọi khác: Không), sinh ngày 04/02/1963, t i huyện B, tỉnh Hà Nam.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 33, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

Nơi ở trước khi b bắt: Tổ 10, th trấn K, huyện V, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Quốc t ch: Việt Nam; T giáo: Không. Con ông: Trần Như T (đã chết); Con bà: Trần Th H, sinh năm 1942, trú t i phường C, thành phố N, tỉnh Nam Đ nh; Vợ: Nguyễn Th T, sinh năm 1964 (đã ly hôn năm 2002), cư trú t i th trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái; Hiện b cáo chung sống như vợ chồng với ch Hoàng Th P, sinh năm 1994, trú t i Tổ 10, th trấn K, huyện V, tỉnh Lào Cai; B cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án: Không

Tiền sự: B cáo có 01 tiền sự, t i Quyết đ nh xử ph t vi ph m hành chính số 144/QĐ-XLVPHC ngày 30/7/2018 của Công an huyện V, tỉnh Yên Bái, xử ph t Trần Như X về hành vi đánh nhau, b ng hình thức ph t tiền 750.000 đồng, cùng ngày Trần Như X đã thi hành xong Quyết đ nh.

Về nhân thân: B cáo có nhân thân xấu.T i Quyết đ nh xử ph t vi ph m hành chính số 46/QĐ ngày 06/12/2010 của Phòng cảnh sát điều tra tội ph m về trật tự xã hội Công an tỉnh Yên Bái xử ph t Trần Như X b ng hình thức ph t tiền 1.000.000 đồng về hành vi đánh b c, cùng ngày Trần Như X đã thi hành xong Quyết đ nh.

B cáo b bắt t m giữ ngày 11/6/2019, t m giam ngày 20/6/2019. Hiện b cáo đang b t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Những người làm chứng:

1. Ch T Hồng N, sinh ngày 01/9/2001. Đ a chỉ: Thôn 8, xã D, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;

2. Ch Đoàn Th T, sinh năm: 1985. Đ a chỉ: Thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;

3. Ch Đào Th H, sinh năm: 1972. Đ a chỉ: Tổ 1, th trấn K, huyện V, tỉnh Lào Cai. Có mặt;

4. Anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1995. Đ a chỉ: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

Những người chứng kiến:

1. Ch Nguyễn Th Lệ T, sinh năm 1985. Đ a chỉ: Thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;

2. Ch Vũ Th Y, sinh năm 1961. Đ a chỉ: Thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;

3. Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1983. Đ a chỉ: Thôn X, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;

4. Anh Lê Giang H, sinh năm 1976. Đ a chỉ: Tổ 1, th trấn K, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;

5. Anh Trần Văn L, sinh năm 1951. Đ a chỉ: Tổ 1, th trấn K, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;

6. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1955. Đ a chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt;

7. Ch Hoàng Th M, sinh năm 1991. Đ a chỉ: Tổ 1, th trấn K, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 10/6/2019, Trần Như X đang ở nhà thì Bùi Văn H gọi điện nhờ X đến nhà nghỉ P ở xã C, huyện V, tỉnh Lào Cai đón H. X điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 21B1-692.99 đến đón H từ nhà nghỉ về th trấn K, huyện V. Khi đến th trấn Khánh Yên cả hai vào quán uống nước, lúc này X đòi tiền xe ôm mà H nợ, H đứng dậy đi một lúc rồi quay l i trả cho X số tiền 500.000 đồng. Lúc sau, H gọi điện tho i cho Hoàng Văn T hỏi "Bao nhiêu tiền một gờ?" (nghĩa là H hỏi T mua ma túy đá). X hỏi H "Ai đấy", H trả lời "T" và bảo X chở đến nhà Hoàng Văn T. Khoảng 16 giờ cùng ngày, H và X đến nhà T, cả ba ngồi ngoài hè nói chuyện một lúc thì T, X, H vào phòng ngủ của bố T cùng sử dụng ma túy đá. Lúc này, H nói với T "Để cho em một gờ", T đáp "Thế mày có tiền hay không?". Do H không có tiền nên T không bán ch u ma túy cho H. Vì vậy, H nói "Anh cho em lấy 02 gờ, em để điện tho i l i" đồng thời đưa điện tho i cho T xem thì T nói "điện tho i này không bán được hai triệu đâu, anh X phải có trách nhiệm cầm tiền ra cho em và cầm điện tho i của H về". X đồng ý và nói với T "Yên tâm điện tho i này H không lấy thì anh cũng bỏ tiền ra lấy". Sau đó, T lấy từ trong người ra 02 gói ma túy đá đưa cho H. Sau khi mua được ma túy đá, H bảo X chở đến xã V, huyện V. Khi đến quán game gần chợ V thì H bảo dừng l i, H vào quán game, một lúc sau đi ra đưa cho X 01 gói nhỏ ma túy đá bảo X cầm gói ma túy để giao cho 01 người thanh niên là b n của H. Sau khi X gọi điện theo số điện tho i mà H cho, X đi đến quán cafe P ở thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai với mục đích đưa 01 gói nhỏ ma túy cho người thanh niên này. Khi gặp nhau, X chở người thanh niên ra v trí cách quán cafe khoảng 50m, người này kiểm tra ma túy rồi quay l i quán và đưa l i cho X gói ma túy rồi nói "Bảo với th ng H lấy 02 gờ". X quay về quán game đưa cho H gói nhỏ ma túy và nói l i nội dung người thanh niên yêu cầu. Nghe X nói xong H bảo X chở đi, khi đến quán nước mía ở thôn B, xã V, huyện V thì H dừng l i rồi cả hai vào quán uống nước. T i đây, H lấy 02 gói ma túy mua được của T chia sang gói nhỏ ma túy mà X vừa đưa l i cho H, rồi H đưa cho X 02 gói ma túy và nói "Mang lên cho b n em" rồi dặn X cầm tiền về cho H. Khi X mang 02 gói ma túy đến gần quán cafe P nhưng chưa k p giao cho người thanh niên theo yêu cầu của H thì b Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai phát hiện bắt quả tang, thu giữ của X 02 gói nhỏ nilon màu trắng, trong suốt bên trong đều có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 điện tho i Nokia 105 màu đen đã cũ, bên trong lắp 02 sim Viettel; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 21B1-692.99 và số tiền 500.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp người và nơi ở của Bùi Văn H. Quá trình thực hiện Lệnh khám xét phát hiện Bùi Văn H đang ở quán nước t i thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Bùi Văn H đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ nilon màu trắng trong suốt cất giấu trong bao thuốc lá Thăng Long, mở gói nilon này ra kiểm tra thì bên trong có chứa các chất tinh thể màu trắng, trong suốt, H khai nhận là ma túy đá mua được của Hoàng Văn T, sinh năm 1985, trú t i Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người ph m tội quả tang đối với Bùi Văn H và thu giữ niêm phong vật chứng là 01 gói nhỏ nilon màu trắng bên trong có chứa các h t tinh thể màu trắng và thu giữ vật chứng có liên quan gồm 01 điện tho i di dộng Masstel bên trong có lắp 02 sim Viettel; 01 bao thuốc lá Thăng Long đã sử dụng, bên trong còn 03 điếu thuốc. Quá trình điều tra, Bùi Văn H khai nhận nguồn gốc 01 gói ma túy trên và số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ của Trần Như X là H mua của Hoàng Văn T với giá 2.000.000 đồng với mục đích mua về sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Văn H, thu giữ 01 gói nhỏ nilon màu trắng trong suốt được dán kín hai đầu, bên trong gói nhỏ có chứa các chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 10 túi nilon nhỏ màu trắng trong suốt; 01 bộ dụng cụ nghi để sử dụng chất ma túy.

Ngày 11/6/2019, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp người và nơi ở của Hoàng Văn T t i Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai thu giữ: 01 túi nilon màu trắng cuộn tròn được buộc b ng dây n t màu vàng, bên trong có chứa 12 gói nhỏ nilon màu trắng trong suốt, bên trong mỗi gói đều chứa các chất tinh thể màu trắng, T khai nhận là ma túy đá; 01 hộp nhựa màu hồng, một mặt hộp có ghi “Kem dưỡng da chống nẻ hoa hồng pháp”, bên trong có chứa 01 túi nilon nhỏ, mở ra bên trong túi nilon này có 03 viên nhỏ d ng cục gồm 02 viên màu tím, 01 viên màu trắng nghi là chất ma túy. Công an huyện Bảo Thắng đã tiến hành lập biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn T và niêm phong toàn bộ vật chứng liên quan.

Qua đấu tranh, Hoàng Văn T khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 10/6/2019 T bắt xe khách từ nhà đi lên thành phố L mục đích để mua ma túy đá về sử dụng và bán kiếm lời. Khi đến khu vực cầu K, thành phố L, tỉnh Lào Cai T xuống xe gặp một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi có biểu hiện giống người nghiện ma túy. T đến gần người này và hỏi “anh bán cho em ít đá”, người đàn ông hỏi “mày mua bao nhiêu”, T trả lời “mua bốn triệu” và đưa tiền cho người này. Sau khi nhận tiền, người đàn ông đó đưa cho T 01 túi nilon màu trắng bên trong là ma túy đá. T cầm số ma túy mua được cất vào túi quần rồi ra bắt xe khách về nhà. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Bùi Văn H gọi điện tho i cho T nói “ngoài anh bán bao tiền một gờ”, T trả lời “tao bán một triệu hai”, H nói “để em ra luôn anh để cho em một gờ”. Khoảng 17 giờ cùng ngày, H và X đi xe máy đến nhà T sau đó H hỏi T “Để cho em một gờ để em đi P đêm em về em trả tiền anh”. T không đồng ý bán ch u nên H cầm cố chiếc điện tho i di động Iphone 6 của mình để mua 02 gờ ma túy. T cầm điện tho i rồi đưa cho H 02 gói ma túy, ngoài 01 gói nhỏ ma túy đã sử dụng còn 12 gói nhỏ ma túy đá còn l i T cất giấu trong túi quần lửng bên trái đang mặc, đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 11/6/2019 b công an thu giữ. Ngoài ra, trong quá trình khám xét, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 hộp nhựa bên trong có chứa 03 viên nhỏ ma túy d ng cục để trong buồng ngủ của T, T khai là ma túy tổng hợp được một người b n tên V không rõ tuổi, đ a chỉ cho cách đây ba tháng khi T đang làm lái xe taxi ở huyện V.

T i biên bản mở niêm phong xác đ nh khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao, nhận đối tượng giám đ nh.

- Mở niêm phong và xác đ nh khối lượng:

Bì niêm phong thứ nhất (là vật chứng thu giữ của Trần Như X): Mở phong bì niêm phong bên trong là 02 gói nilon, bên trong mỗi gói đều chứa chất tinh thể trong suốt, màu trắng. Tổng khối lượng của chất tinh thể trong suốt, màu trắng trong cả hai túi nilon trên là 0,68 gam (ký hiệu M1).

Bì niêm phong thứ hai (là vật chứng thu giữ của Bùi Văn H): Mở phong bì niêm phong bên trong là 01gói nilon, bên trong có chứa chất tinh thể trong suốt, màu trắng có khối lượng là 0,73 gam (ký hiệu M2).

Bì niêm phong thứ ba (là vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét người của Hoàng Văn T): Mở phong bì niêm phong bên trong là 01gói nilon màu trắng, bên ngoài được buộc b ng dây n t màu vàng bên trong đựng 12 gói nhỏ nilon màu trắng trong suốt. Bên trong cả 12 gói nilon nhỏ này đều chứa chất tinh thể trong suốt, màu trắng. Tổng khối lượng của chất tinh thể trong suốt, màu trắng trong cả 12 túi nilon là 2,3 gam (ký hiệu M3).

Bì niêm phong thứ tư (là vật chứng thu giữ trong quá trính khám xét nơi ở Hoàng Văn T): Mở phong bì niêm phong bên trong là 01 hộp nhựa màu hồng mở ra bên trong chứa 01túi nilon nhỏ màu trắng trong suốt, bên trong túi nilon là gói giấy nhỏ màu xanh đựng 03 cục, trong đó:

+ 01 cục màu trắng có khối lượng là 0,28 gam (ký hiệu M4).

+ 02 cục màu tím có tổng khối lượng là 0,4 gam (ký hiệu M5).

Cơ quan giám đ nh đã tiến hành đồng nhất riêng từng mẫu sau đó trích mẫu giám đ nh.

T i bản kết luận giám đ nh số 143/GĐMT ngày 12/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Mẫu M1: 0,68 gam các h t tinh thể trong suốt, màu trắng gửi giám đ nh là lo i chất ma túy Methamphetamine; Mẫu M2: 0,73 gam các h t tinh thể trong suốt, màu trắng gửi giám đ nh là lo i chất ma túy Methamphetamine; Mẫu M3: 2,3 gam các h t tinh thể trong suốt, màu trắng gửi giám đ nh là lo i chất ma túy Methamphetamine; Mẫu M4: 0,28 gam bột khô, d ng cục, màu trắng gửi giám đ nh là lo i chất ma túy MDMA; Mẫu M5: 0,4 gam bột khô, d ng cục, màu tím gửi giám đ nh là lo i chất ma túy MDMA.

T i kết luận giám đ nh số 147/GĐMT ngày 18/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: "Không tìm thấy các chất ma túy trong 0,12 gam h t tinh thể rắn, màu trắng gửi giám đ nh".

T i bản cáo tr ng số 32/CT-VKS ngày 13/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố các b cáo Hoàng Văn T, Bùi Văn H và Trần Như X về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy đ nh t i Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà hôm nay đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quyết đ nh truy tố và đề ngh Hội đồng xét xử tuyên bố các b cáo Hoàng Văn T, Bùi Văn H và Trần Như X ph m tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Trong đó:

Về hình ph t chính:

Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề ngh xử ph t b cáo Hoàng Văn T từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.

Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, đề ngh xử ph t b cáo Bùi Văn H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, đề ngh xử ph t b cáo Trần Như X từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.

Về hình ph t bổ sung: Áp dụng Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đề ngh ph t bổ sung b cáo Hoàng Văn T từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ, b cáo Bùi Văn H 7.000.000đ đến 10.000.000đ, b cáo Trần Như X từ 5.000.000đ đến 7.000.000đ để sung ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề ngh tuyên:

T ch thu tiêu hủy các chất ma túy còn l i sau trích mẫu giám đ nh gồm 0,55 gam Methamphetamine (ký hiệu M1); 0,63 gam Methamphetamine (ký hiệu M2); 2,13 gam Methamphetamine (ký hiệu M3); 0,14 gam MDMA (ký hiệu M4); 0,13 gam MDMA (ký hiệu M5) và 0,06 gam h t tinh thể rắn, màu trắng không pH là ma túy; 01 bao thuốc lá Thăng Long đã bóc sử dụng bên trong còn 03 điếu, miệng bao b rách; 10 gói nilon nhỏ màu trắng trong suốt và 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đá gồm ống hút nhựa, ống thủy tinh đã b vỡ một phần, đầu khò thu giữ của b cáo Bùi Văn H.

T ch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện tho i Nokia 105 màu đen bên trong lắp 02 sim viettel và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 21B1-692.99 thu giữ của Trần Như X; 01 điện tho i Masstel, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Văn H; 01 điện tho i di động Iphone 6 màu vàng, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của b cáo Hoàng Văn T (Những điện tho i và xe mô tô trên các b cáo sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy).

Trả l i cho b cáo Trần Như X 500.000 đồng, trả cho b cáo Hoàng Văn T 9.650.000 đồng và 01 điện tho i di động Iphone 5, mặt sau dán giấy màu đỏ, máy cũ đã qua sử dụng nhưng tiếp tục t m giữ để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra đề ngh Hội đồng xét xử tuyên nghĩa vụ ch u án phí Hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo cho các b cáo theo quy đ nh của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

. Về hành vi ph m tội của các b cáo:

T i phiên tòa hôm nay, các b cáo Hoàng Văn T, Bùi Văn H và Trần Như X đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình như bản cáo tr ng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của các b cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai t i cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng đ nh bản cáo tr ng số 31/CT-VKS ngày 13/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố các b cáo Hoàng Văn T, Bùi Văn H và Trần Như X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy đ nh t i Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các b cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật. Bản thân các b cáo đều là đối tượng nghiện chất ma túy nên các b cáo hiểu rất rõ tệ n n ma tuý đã và đang trở thành hiểm ho lớn của toàn nhân lo i, cũng như mọi quốc gia, ma tuý làm gia tăng các lo i tội ph m, b o lực, vắt c n kiệt nhân lực, tài chính, huỷ diệt sức khỏe của con người và là tác nhân của căn bệnh thế kỷ HIV- AIDS. Các b cáo cũng hiểu rõ Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy". Mọi hành vi vi ph m đều phải được xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật. Hiểu rất rõ điều đó song do không ch u tu dưỡng rèn luyện bản thân, hám lợi, lười lao động l i muốn có tiền tiêu xài nên các b cáo đã bất chấp các quy đ nh của pháp luật lao vào con đường ph m tội. Hành vi ph m tội của các b cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm ph m trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý và gây mất trật tự tr an xã hội ở đ a phương.

Trong vụ án này Hoàng Văn T mua được 3,71 gam Methamphetamine với giá 4.000.000 đồng để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời, ngoài ra b cáo còn tàng trữ 0,68 gam MDMA với mục đích có ai hỏi mua thì bán và chiều 10/6/2019 T đã bán cho H 02 gói Methamphetamine có tổng khối lượng là 1,41 gam với giá 2.000.000 đồng. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của b cáo Hoàng Văn T diễn ra độc lập, không có sự bàn b c với Bùi Văn H và Trần Như X. Do đó, b cáo Hoàng Văn T phải ch u trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy đối với khối lượng ma túy mà Cơ quan điều tra đã thu giữ của T trong quá trình khám xét khẩn cấp và khối lượng ma túy do T đã bán cho H, tổng cộng là 4,39 gam (gồm 3,71 gam Methamphetamine “ma túy đá” và 0,68 gam MDMA “ma túy tổng hợp”).

Đối với b cáo Bùi Văn H và b cáo Trần Như X ph m tội mang tính chất đồng ph m giản đơn. Vì vậy Hội đồng xét xử cũng cần xem xét đánh giá vai trò của từng b cáo để có một mức án phù hợp với hành vi ph m tội của từng b cáo.

B cáo Bùi Văn H là người trực tiếp mua của Hoàng Văn T 02 gói Methamphetamine có tổng khối lượng là 1,41 gam, sau khi mua được ma túy của T, b cáo đã lấy một ít đưa cho X bảo mang đưa cho b n của b cáo đang ở Phú Nhuận, sau khi X đi gặp b n của b cáo người đó thử ma túy và yêu cầu lấy 02 gờ, X về đưa l i gói ma túy lúc trước H đưa cho X và nói l i yêu cầu của người đó thì H đã chia ra số ma túy mua được của T làm 03 gói nhỏ và nhờ X mang đi bán 02 gói nhỏ có tổng khối lượng 0,68 gam Methamphetamine, còn l i 0,73 gam Methamphetamine H cất giữ trong người thì b lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ. Vì vậy b cáo Bùi Văn H phải ch u trách nhiệm hình sự với vai trò khởi xướng việc mua bán trái phép 1,41 gam Methamphetamine.

Đối với b cáo Trần Như X là người làm nghề xe ôm, mặc dù giữa b cáo và b cáo H không có sự thỏa thuận bàn b c về việc bán ma túy, song khi H đưa 02 gói ma túy có tổng khối lượng 0,68 gam và bảo b cáo mang giao cho b n của H rồi cầm tiền về cho H, b cáo đã không can ngăn mà nghe theo H mang ma túy đi giao cho b n của H. Vì vậy b cáo X phải ch u trách nhiệm hình sự với vai trò đồng ph m thực hành tích cực với b cáo H về hành vi mua bán trái phép 0,68 gam Methamphetamine.

Hành vi ph m tội của các b cáo Hoàng Văn T, Bùi Văn H và Trần Như X là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự tr an t i đ a phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi ph m tội của từng b cáo để cải t o giáo dục các b cáo và phòng ngừa chung.

. Về nhân thân của các b cáo:

Các b cáo Hoàng Văn T, Bùi Văn H đều chưa có tiền án, tiền sự.

Đối với b cáo Trần Như X b cáo là đối tượng có một tiền sự t i Quyết đ nh xử ph t vi ph m hành chính số 144/QĐ-XLVPHC ngày 30/7/2018 của Công an huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, xử ph t Trần Như X về hành vi đánh nhau, b ng hình thức ph t tiền 750.000 đồng. Ngoài ra t i Quyết đ nh xử ph t vi ph m hành chính số 46/QĐ ngày 06/12/2010 của Phòng cảnh sát điều tra tội ph m về trật tự xã hội Công an tỉnh Yên Bái xử ph t Trần Như X b ng hình thức ph t tiền 1.000.000 đồng về hành vi đánh b c. Căn cứ vào Điều 7 Luật xử lý vi ph m hành chính thì đối với Quyết đ nh xử ph t vi ph m hành chính số 46/QĐ ngày 06/12/2010 đối với b cáo được coi là chưa b áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nên đây không phải là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với b cáo. Song điều đó cũng cho thấy b cáo là đối tượng có nhân thân xấu.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các b cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi b bắt và t i phiên toà các b cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cũng cần áp dụng cho các b cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh t i Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với b cáo Hoàng Văn T có bố đẻ là ông Hoàng Văn T1 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến h ng Nhì nên cần áp dụng cho b cáo Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về các vấn đề liên quan trong vụ án:

Đối với người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi theo b cáo Hoàng Văn T khai là người đã bán ma túy cho b cáo vào sáng 10/6/2019 t i khu vực cầu K, thành phố L, quá trình điều tra không xác đ nh được lai l ch, đ a chỉ của người này nên cơ quan điều tra và viện kiểm sát không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.

Đối với người đàn ông tên V theo b cáo Hoàng Văn T khai là người đã cho b cáo 03 viên ma túy tổng hợp (MDMA) có tổng khối lượng là 0,68 gam, quá trình điều tra không xác đ nh được lai l ch, đ a chỉ của người này nên cơ quan điều tra và viện kiểm sát không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.

Đối với Hoàng Văn T2 là người mà b cáo Bùi Văn H khai đã gọi điện cho b cáo để mua ma túy vào ngày 10/6/2019, qua đấu tranh thì T2 không thừa nhận việc hỏi mua túy của H. Ngoài lời khai của Bùi Văn H không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh việc T2 hỏi mua ma túy của H, nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không có đủ căn cứ để xử lý đối với Hoàng Văn T2. Xét thấy là có căn cứ đúng pháp luật.

. Về hình ph t bổ sung: Xét thấy cần tuyên ph t các b cáo một khoản tiền nhất đ nh để nộp vào ngân sách Nhà nước.

. Về vật chứng của vụ án:

Cơ quan điều tra đã thu giữ của Trần Như X 02 gói nhỏ tinh thể màu trắng trong suốt có tổng khối lượng là 0,68 gam (ký hiệu M1) cơ quan giám đ nh đã trích mẫu để giám đ nh 0,13 gam.

Thu giữ của Bùi Văn H 01 gói nhỏ tinh thể màu trắng trong suốt có tổng khối lượng là 0,73 gam (ký hiệu M2), cơ quan giám đ nh đã trích mẫu để giám đ nh 0,11 gam.

Thu giữ của Hoàng Văn T một túi nilon màu trắng, bên ngoài được buộc b ng dây n t màu vàng bên trong đựng 12 gói nhỏ nilon màu trắng trong suốt, bên trong 12 gói nilon nhỏ này đều là tinh thể màu trắng trong suốt có tổng khối lượng là 2,3 gam (ký hiệu M3), cơ quan giám đ nh đã trích mẫu để giám đ nh 0,17 gam; 01 hộp nhựa màu hồng bên trong chứa 01túi nilon nhỏ màu trắng trong suốt, bên trong túi nilon này là gói giấy nhỏ màu xanh đựng 03 cục, trong đó: 01 cục màu trắng có khối lượng là 0,28 gam (ký hiệu M4), cơ quan giám đ nh trích mẫu để giám đ nh 0,14 gam chất màu trắng; 02 cục màu tím có tổng khối lượng là 0,4 gam (ký hiệu M5),cơ quan giám đ nh đã trích mẫu để giám đ nh 0,27 gam.

Thu giữ t i nhà Bùi Văn H 0,12 gam h t tinh thể rắn, màu trắng. Cơ quan giám đ nh trích mẫu để giám đ nh 0,06 gam.

Đối với số vật chứng trích mẫu để giám đ nh Cơ quan giám đ nh đã sử dụng hết nên không đề cập giải quyết.

Số vật chứng còn l i sau giám đ nh cụ thể: Mẫu M1: 0,55 gam Methamphetamine; Mẫu M2: 0,62 gam Methamphetamine; Mẫu M3: 2,13 gam Methamphetamine; Mẫu M4: 0,14 gam MDMA; Mẫu M5: 0,13 gam MDMA được niêm phong theo quy đ nh và hoàn trả cơ quan trưng cầu giám đ nh. Xét thấy đây là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành nên cần tuyên t ch thu để tiêu hủy.

Đối với 0,06 gam h t tinh thể rắn, màu trắng còn l i sau trích mẫu giám đ nh thu giữa t i nhà Bùi Văn H, qua giám đ nh không tìm thấy chất ma túy, nhưng số h t tinh thể này không có giá tr sử dụng nên cũng cần tuyên t ch thu tiêu hủy.

Cơ quan điều tra thu giữ của Bùi Văn H 01 bao thuốc lá Thăng Long đã sử dụng bên trong còn 03 điếu, 10 túi nilon nhỏ màu trắng trong suốt, 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đá gồm ống hút nhựa, ống thủy tinh đã b vỡ một phần, đầu khò. Xét thấy không có giá tr sử dụng nên cần tuyên t ch thu tiêu hủy.

Thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 21B1-692.99 màu trắng đen xe cũ đã qua sử dụng, 01 điện tho i di động Nokia 105 màu đen trong máy lắp 02 sim viettel máy cũ đã qua sử dụng của Trần Như X; 01 điện tho i di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng máy không có sim máy cũ đã qua sử dụng do Bùi Văn H cầm cố cho Hoàng Văn T để mua ma túy; 01 điện tho i nhãn hiệu Masstel trong máy lắp 02 sim viettel máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Văn H. Xét thấy đây là công cụ, phương tiện ph m tội của các b cáo nên cần tuyên t ch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Riêng đối với 04 chiếc sim viettel lắp trong điện tho i di động của H và X không còn giá tr sử dụng nên cần tuyên t ch thu tiêu hủy.

Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ số tiền 9.650.000 đồng và 01 điện tho i di động nhãn hiệu Iphone 5 mặt sau gián giấy màu đỏ máy cũ đã qua sử dụng của Hoàng Văn T; Thu giữ 500.000 đồng của Trần Như X. Đây không phải là vật chứng của vụ án, nên cần tuyên trả l i cho các b cáo, nhưng cần tiếp tục t m giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với chiếc điện tho i Hoàng Văn T dùng liên l c với Bùi Văn H để mua bán ma túy theo T khai đã b mất, cơ quan điều tra không thu giữ được vì vậy không đặt ra vấn đề giải quyết.

. Về án phí: Các b cáo phải ch u án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh t i Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

. Về đề ngh của Kiểm sát viên, các b cáo:

Xét thấy đề ngh của Kiểm sát viên về hình ph t chính và hình ph t bổ sung đối với các b cáo là phù hợp quy đ nh của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và việc tranh tụng t i phiên tòa để quyết đ nh mức hình ph t tương xứng với hành vi ph m tội của các b cáo.

T i phiên tòa các b cáo không đề ngh gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và t i phiên tòa b cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết đ nh của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy đ nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các b cáo Hoàng Văn T, Bùi Văn H và Trần Như X ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử ph t b cáo Hoàng Văn T 06 (sáu) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 11/6/2019.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử ph t b cáo Bùi Văn H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 11/6/2019.

Xử ph t b cáo Trần Như X 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 11/6/2019.

2. Về hình ph t bổ sung: Áp dụng Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự

Tuyên ph t b cáo Hoàng Văn T 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước.

Tuyên ph t b cáo Bùi Văn H 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước.

Tuyên ph t b cáo Trần Như X 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước.

3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tuyên t ch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 21B-69299 màu trắng đen xe cũ đã qua sử dụng, 01 điện tho i di động Nokia 105 màu đen của Trần Như X; 01 điện tho i di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng; 01 điện tho i nhãn hiệu Masstel của Bùi Văn H.

Tuyên t ch thu tiêu hủy:

- 0,55 gam Methamphetamine được niêm phong trong một bì thư của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên mặt trước của bì thư có ghi “Vật chứng còn l i sau trích mẫu giám đ nh thu giữ của Trần Như X ngày 10/6/2019 t i thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai” mặt sau có 02 dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và chữa ký của các bên tham gia được gián phủ b ng lớp băng dính trong suốt.

- 0,62 gam Methamphetamine được niêm phong trong một bì thư của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên mặt trước của bì thư có ghi “Vật chứng còn l i sau trích mẫu giám đ nh thu giữ của Bùi Văn H ngày 10/6/2019 t i thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai” mặt sau có 02 dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và chữ ký của các bên tham gia được gián phủ b ng lớp băng dính trong suốt.

- 2,13 gam Methamphetamine được niêm phong trong một bì thư của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên mặt trước của bì thư có ghi “Vật chứng còn l i sau trích mẫu giám đ nh thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp người của Hoàng Văn T ngày 11/6/2019 t i Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai” mặt sau có 02 dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và chữa ký của các bên tham gia được gián phủ b ng lớp băng dính trong suốt.

- 0,14 gam MDMA và 0,13 gam MDMA được niêm phong trong một bì thư của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên mặt trước của bì thư có ghi “Vật chứng còn l i sau trích mẫu giám đ nh thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn T ngày 11/6/2019 t i Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai” mặt sau có 02 dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và chữa ký của các bên tham gia được gián phủ b ng lớp băng dính trong suốt.

- 0,06, gam h t tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong một bì thư của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên mặt trước của bì thư có ghi “Vật chứng còn l i sau trích mẫu giám đ nh thu trong vụ Bùi Văn H có hành vi ph m tội về ma túy. Phát hiện (thu giữ) ngày 10/6/2019 t i Tổ 1, th trấn K, huyện V, tỉnh Lào Cai” mặt sau có 03 dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và chữa ký của các bên tham gia được gián phủ b ng lớp băng dính trong suốt.

02 sim viettel lắp trong điện tho i di động nhãn hiệu Nokia 105 và 02 sim viettel lắp trong điện tho i di động nhãn hiệu Masstel, 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong còn 03 điếu, 10 túi nilon nhỏ màu trắng trong suốt, 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đá gồm ống hút nhựa, ống thủy tinh đã b vỡ một phần, đầu khò.

Trả cho b cáo Hoàng Văn T số tiền 9.650.000 đồng (chín triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 điện tho i di động nhãn hiệu Iphone 5; Trả cho b cáo Trần Như X số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), nhưng tiếp tục t m giữ để đảm bảo thi hành án.

4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc b cáo Hoàng Văn T, Bùi Văn H và Trần Như X mỗi b cáo phải ch u 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các b cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh t i Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh t i các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh t i Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ