vanban.org

Bản án 34/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thanh D, xử cho chị Vũ Thị Thanh D ly hôn anh Lê Văn H.

Về quan hệ con chung: Giao cho chị Vũ Thị Thanh D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con là Lê A, sinh ngày 27/10/2015 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh H cấp dƣỡng nuôi con cùng chị. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai đƣợc c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Vũ Thị Thanh D ly hôn anh Lê Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thanh D, xử cho chị Vũ Thị Thanh D ly hôn anh Lê Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2019/HNGĐ-ST
Ngày 16/8/2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Nguyễn Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh - kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 133/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 30/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/7/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30/7/2019 giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Thanh D, sinh năm 1995; đăng ký HKTT: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng; hiện trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).

Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1990; đăng ký HKTT và hiện trú tại: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (vắng mặt).

Ngƣời làm chứng: Bà Đoàn Thị Nh, sinh năm 1954; trú tại: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là chị Vũ Thị Thanh D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn H kết hôn với nhau vào ngày 12/9/2014 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống cùng gia đình chồng ở thôn H, xã C, huyện T. Anh chị chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách của hai ngƣời không hợp nhau, quan điểm sống bất đồng, anh H sống không chung thủy, đi ngoại tình với ngƣời phụ nữ khác. Mặt khác, chị và mẹ chồng thƣờng xuyên có mâu thuẫn nhƣng anh H không hòa giải mâu thuẫn này mà còn bênh mẹ khiến cuộc sống của chị rất nặng nề, áp lực. Do không chịu đựng đƣợc cuộc sống nhƣ vậy nên từ đầu tháng 5/2019, chị đã đƣa con về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Đ, xã T, huyện T sống. Chị và anh H ly thân nhau từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị thấy không còn tình cảm với anh H nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh H.

Về quan hệ con chung: Chị và anh H có một con chung là Lê A, sinh ngày 27/10/2015, con đang ở cùng chị. Nguyện vọng của chị muốn đƣợc nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dƣỡng nuôi con cùng chị. Hiện chị làm công nhân, thu nhập trung bình là 8.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản, tài liệu cho bị đơn là anh Lê Văn H và nhiều lần triệu tập anh H đến Tòa án giải quyết vụ ly hôn nhƣng anh H không đến Tòa án làm việc, cũng không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị D.

Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị D và anh H. Tại biên bản xác minh ngày 21/6/2019, đại diện lãnh đạo xã cùng đại diện Hội phụ nữ, Tƣ pháp xã và lãnh đạo thôn H đều xác nhận anh H không có công việc ổn định, liên tục thay đổi chỗ làm và thƣờng chơi bời với những thành phần có nhân thân xấu, anh H và chị D có mâu thuẫn nên chị D đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở và anh chị sống ly thân nhau.

Ngƣời làm chứng là bà Đoàn Thị Nh (là mẹ anh H) trình bày: Sau khi cƣới, chị D và anh H sống cùng nhà với bà. Cuộc sống chung của chị D, anh H hạnh phúc đến giữa năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách của hai vợ chồng không hợp nhau, mỗi lần nói chuyện đều xảy ra cãi nhau. Từ tháng 5/2019, chị D đã đƣa con về nhà bố mẹ đẻ ở Đ, T sống, anh H, chị D không hỏi han gì nhau. Khi Tòa án giao giấy triệu tập cho anh H, bà đã về đƣa cho anh H, anh H nói đồng ý ly hôn nhƣng sẽ không đến Tòa án làm việc.

Đại diện Cơ quan quản lý nhà nƣớc về gia đình và trẻ em ở xã C đề nghị Tòa án giải xem xét giao con cho chị D nuôi dƣỡng, chăm sóc vì con còn nhỏ, chị D lại có công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con, còn anh H công việc không ổn định, không đảm bảo việc nuôi con.

Toà án đã tiến hành các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải vụ án theo quy định của pháp luật nhƣng anh H không đến tham gia nên vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc. Tại phiên toà sơ thẩm ngày 30/7/2019, bị đơn là anh Lê Văn H đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng không đến tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà.

Tại phiên toà, chị D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh H và đề nghị đƣợc nuôi con, ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác. Anh H đã đƣợc triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhƣng vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ có quan điểm xác định việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thanh D là đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, chị D có mặt, anh H vắng mặt lần hai không có lý do, HĐXX đã căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn và thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền - nghĩa vụ của mình, bị đơn không thực hiện đúng quyền - nghĩa vụ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hƣớng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội, xử cho chị D ly hôn anh H; giao cho chị D nuôi con là Lê A, anh H không phải cấp dƣỡng nuôi con cùng chị D; về án phí: chị D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, cña đƣơng sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn là anh Lê Văn H đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Thanh D và anh Lê Văn H tự nguyện kết hôn và đã đƣợc UBND xã C đăng ký, cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/9/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị D, căn cứ vào biên bản xác minh tại địa phƣơng, lời khai của ngƣời làm chứng (là bà Nh) có cơ sở xác định trong cuộc sống chị D và anh H có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống bất đồng, vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra cãi nhau và không có sự tin tƣởng, tôn trọng nhau. Từ tháng 5 năm 2019, chị D và anh H sống ly thân nhau. Anh H cũng không có thiện chí đoàn tụ cùng chị D, điều này thể hiện ở việc trong quá trình vợ chồng ly thân, anh H và chị D không quan tâm đến nhau và anh H cũng không có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ vợ chồng. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, anh H đã nhiều lần đƣợc Tòa án triệu tập để lấy lời khai, đồng thời hòa giải việc ly hôn với chị D nhƣng không đến, cũng không thể hiện quan điểm muốn vợ chồng đoàn tụ. Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ cũng đề nghị HĐXX xử cho chị D đƣợc ly hôn anh H. Hội đồng xét xử thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị D, xử cho chị D đƣợc ly hôn với anh H.

Về quan hệ con chung: Chị D có nguyện vọng đƣợc nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dƣỡng. HĐXX thấy con chung của chị D và anh H còn nhỏ, từ khi cháu sinh ra đến nay vẫn do chị D chăm sóc, chị D có công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con, còn anh H không có công việc ổn định nên cần giao con cho chị D trực tiếp nuôi dƣỡng để đảm bảo cuộc sống của cháu là phù hợp với quan điểm của đại diện VKS, quan điểm của Cơ quan bảo vệ gia đình và trẻ em ở địa phƣơng và phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh H cấp dƣỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Các đƣơng sự không đề nghị giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị D là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thanh D, xử cho chị Vũ Thị Thanh D ly hôn anh Lê Văn H.

2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Vũ Thị Thanh D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con là Lê A, sinh ngày 27/10/2015 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh H cấp dƣỡng nuôi con cùng chị. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Chị Vũ Thị Thanh D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2017/0005120 ngày 17/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. ơNơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đƣơng sự;

Cỡ chữ