vanban.org

Bản án 34/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

VKSND huyện Thới Bình; Chi cục THADS huyện Thới Bình; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị C yêu cầu được ly hôn đối với anh N"
  • Tòa quyết gì? TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 06-5-2019
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Công Dịnh 2. Ông Nguyễn Văn Chính

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình. Trong ngày 06 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2019 về tranh chấp ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị C, sinh năm 1987 (có mặt) Địa chỉ: Ấp P, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang 2. Bị đơn: Anh Phan Mi N, sinh năm 1980 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện Th, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn là chị Huỳnh Thị C trình bày: Về hôn nhân: Chị C và anh N tự tìm hiểu và được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Th, tỉnh Cà Mau ngày 20/12/2007. Quá trình chung sống hạnh phúc, nhưng từ năm 2013 đến nay, hai người xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Anh N nhiều lần nhậu say về chửi mắng chị C. Anh N còn tham gia cờ bạc, không chí thú làm ăn. Chị C khuyên bảo anh N nhiều lần nhưng không có kết quả. Đến cuối năm 2017, chị C đưa 02 người con chung về cha mẹ ruột sinh sống đến nay. Xét thấy không còn tình cảm, nên chị C xin được ly hôn đối với anh N. Về con chung: Có 02 người con chung, gồm Phan Phong Ph và Phan Ngọc H. Các con hiện do chị C nuôi dạy. Khi ly hôn, chị C yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung tự thỏa thuận và không có nợ chung. Tại phiên tòa hôm nay: Chị C xác định hai người không có nợ chung và vẫn bảo lưu ý kiến của mình như trình bày trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bị đơn được triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đương sự này. [2] Chị C và anh N có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên được công nhận là vợ chồng. Tuy anh N không có ý kiến, nhưng qua tài liệu do phía chị C cung cấp, xác định hai người sống ly thân từ cuối năm 2017 đến nay. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa hai người có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị C được ly hôn với anh N. [3] Các đương sự có 02 người con chung tên Phan Phong Ph (giới tính: Nam), sinh ngày 09/8/2007 và Phan Ngọc H (giới tính: Nữ), sinh ngày 16/4/2012. Các con do chị C nuôi dạy. Anh N không có ý kiến gì khác, trong khi các con chung đều có nguyện vọng được sống với mẹ, nên chấp nhận yêu cầu của chị C được tiếp tục nuôi các con chung. Chị C không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. [4] Anh N được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. [5] Các đương sự không có tài sản chung và không có nợ chung, nên không xem xét. [6] Chị C là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. [7] Tại phiên tòa: Chị C có mặt, nên thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án; anh N vắng mặt, nên thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: 1. Xét xử vắng mặt anh Phan Mi N. 2. Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị C được ly hôn đối với anh Phan Mi N. 3. Chị C được quyền tiếp tục nuôi dạy 02 người con chung tên Phan Phong Ph (giới tính: Nam), sinh ngày 09/8/2007 và Phan Ngọc H (giới tính: Nữ), sinh ngày 16/4/2012. 4. Anh N được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. 5. Chị C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Phần chị C nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005930 ngày 12/02/2019 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình phát hành được khấu trừ. 6. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ