vanban.org

Bản án 34/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 34/2019/DS-ST

Ngày: 16/07/2019

HUYỆN CHỢ MỚI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc V/v tranh chấp “Hợp đồng vay

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Thanh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tôn Phước Thuận; 2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai. Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên Trong ngày 16 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2019/TLST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2019/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Bà Phạm Kim N, sinh năm 1959. Địa chỉ: Số nhà 148, tổ 06 ấp L, L, huyện C, tỉnh An Giang (Có mặt). - Bị đơn: Bà Đoàn Thị K, sinh năm 1986 (Vắng mặt). Địa chỉ: ấp M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1986 (Vắng mặt). Địa chỉ: ấp M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và quá trình giải quyết vụ án Bà Phạm Kim N trình bày: Do chỗ quen biết nên vào ngày 25/02 âl/2014 bà có cho vợ chồng bà Đoàn Thị K, ông Nguyễn Thanh P mượn số tiền 50.000.000 đồng lúc vay mượn có làm biên nhận, mục đích vay để làm vốn mua bán, lãi suất thỏa thuận 3%/tháng hẹn 03 tháng sẽ trả vốn và lãi. Đến hẹn bà có đòi nhiều lần nhưng vợ chồng bà K, ông P chỉ trả cho bà được 10.000.000 đồng, còn lại 40.000.000 đồng vợ chồng bà K, ông P có là tờ cam kết mỗi tháng trả 5.000.000 đồng nhưng

đến nay cũng không thực hiện. Nay bà yêu cầu vợ chồng bà Đoàn Thị K và ông Nguyễn Thanh P trả cho bà số tiền 40.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Tại phiên tòa hôm nay Bà Phạm Kim N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn bà Đoàn Thị K, ông Nguyễn Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông P, bà Kiều vắng mặt không rõ lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông P, bà Kiều về nội dung đơn khởi kiện của bà N. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: - Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Đối với Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Đối với Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Đối với nguyên đơn: Bà Phạm Kim N từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P, bà Đoàn Thị K đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là phù hợp Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 xem xét: + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Kim N. + Buộc ông Nguyễn Thanh P, bà Đoàn Thị K liên đới trả Phạm Kim N40.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết qua tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Về thủ tục tố tụng: [1] Bà Phạm Kim N khởi kiện ông Nguyễn Thanh P, bà Đoàn Thị K. Ông P, bà Kiều có nơi cư trú tại ấp M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 26, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Bị đơn bà Đoàn Thị K, ông Nguyễn Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. [3] Đối với ông Nguyễn Thanh P chồng bà K tại thời điểm vay mượn

không tham gia ký biên nhận nợ, nhưng lại ký tên vào cam kết trả nợ cùng bà K. Do đó Hội đồng xét xử cần đưa ông Nguyễn Thanh P tham gia với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp. - Về nội dung: [4] Bà Phạm Kim N cho bà Đoàn Thị K, ông Nguyễn Thanh P vay số tiền 50.000.000 đồng có làm biên nhận được bà Kiều ký xác nhận nợ, và có hứa trả cho bà Nhẹ theo cam kết. Sau đó bà N có đòi nhiều lần nhưng vợ chồng bà Kiều, ông P chỉ trả được 10.000.000 đồng và cam kết mỗi tháng trả 5.000.000 đồng nhưng đến nay cũng không thực hiện. Nay bà yêu cầu trả lại số tiền 40.000.000 đồng không yêu cầu tính lãi. Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp. Do bà Kiều, ông P vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận nên bà Kiều, ông P phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ cho bà N. Mặc khác trong quá trình giải quyết vụ án ông P, bà K đã được Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc khởi kiện của bà Nhẹ và triệu tập đến Tòa án triệu tập hợp lệ đến tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Kiều, ông P không có ý kiến gì về việc bà Nhẹ khởi kiện và vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Phạm Kim N buộc bà Đoàn Thị K, ông Nguyễn Thanh P có nghĩa vụ trả cho Bà Phạm Kim N số tiền 40.000.000 đồng và trả lãi theo quy định của pháp luật là phù hợp theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Do bà Pham Kim N không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [5] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015. - Các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Phạm Kim N. - Buộc bà Đoàn Thị K, ông Nguyễn Thanh P có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phạm Thị N số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng. - Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đoàn Thị K, ông Nguyễn Thanh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Bà Phạm Kim N được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 1.000.000 đồng theo biên lai thu số 0012452 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 10 tháng 01 năm 2019. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Bà Phạm Kim N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Đoàn Thị K, ông Nguyễn Thanh P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ