vanban.org

Bản án 34/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phước Long, tỉnh Bình Phước Tuyên án 13/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HS Nguyễn Hữu N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHƯỚC LONG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2018/HS-ST
Ngày 13 tháng 06 năm 2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Đông Quang

Ông Trần Văn Quý

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước

tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 06 năm 2018, tại trụ sở Toà án Nhân dân thị xã Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2018/TLST - HS ngày 24 tháng 04 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 24/2018/QĐXXST – HS ngày 01 tháng 06 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu N (tên gọi khác: U), năm sinh: 1996; nơi

sinh: Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: Khu B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Tiền án, tiền sự: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Hữu K; Họ và tên mẹ: Phạm Thị N, sinh năm 1968; Cả hai hiện sinh sống tại khu B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Bị cáo có 04 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1989, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Ngày 17/01/2018, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1992. (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố B, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/01/2018, Nguyễn Hữu N đến khu vực bến xe Miền Đông, thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy (đựng trong 45 đoạn ống nhựa hàn kín 02 đầu) của 01 đối tượng (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 2.200.000 đồng, mục đích để sử dụng. N cất ma túy vào túi quần rồi đi xe khách về thị xã Phước Long. Trong 02 ngày 15 và 16/01/2018, N sử dụng hết số ma túy đựng trong 02 đoạn ống nhựa.

Đến 08 giờ ngày 17/01/2018, Nguyễn Hữu N mang số ma túy còn lại đến khu vực phía sau kho bạc– thuộc khu G, phường L, thị xã P, để chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng Công an thị xã Phước Long kết hợp cùng Phòng ma túy Công an tỉnh Bình Phước phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ trên người N 43 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín 02 đầu bên trong chứa ma túy (có biên bản niêm phong kèm theo), số tiền 1.237.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng gold.

Căn cứ kết luận giám định số 20/2018/GĐKTHS ngày 19/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: Chất màu trắng đựng trong 43 đoạn ống nhựa (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng là 3,2934 gam, loại Heroine.

Hoàn lại sau giám định: Chất màu trắng sau giám định được niêm phong có trọng lượng: M = 3,1709 gam.

Tại bản cáo trạng số 27/CT - VKS ngày 20 tháng 04 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Hữu N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 tuyên bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, các điều 38, 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N mức án từ 18 tháng tù đến 21tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu tiêu hủy chất màu trắng sau giám định được niêm phong có trọng lượng: M = 3,1709 gam.

Đối với số tiền 1.237.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng gold không liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị can Nguyễn Hữu N.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Phước Long, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Hữu N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Ngày 15/01/2018, Nguyễn Hữu N đến khu vực bến xe Miền Đông, thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy (đựng trong 45 đoạn ống nhựa hàn kín 02 đầu) của 01 đối tượng (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 2.200.000 đồng, mục đích để sử dụng. N cất ma túy vào túi quần rồi đi xe khách về thị xã Phước Long. Trong 02 ngày 15 và 16/01/2018, N sử dụng hết số ma túy đựng trong 02 đoạn ống nhựa.

Đến 08 giờ ngày 17/01/2018, Nguyễn Hữu N mang số ma túy còn lại đến khu vực phía sau kho bạc– thuộc khu 5, phường Long Phước, thị xã Phước Long, để chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng Công an thị xã Phước Long kết hợp cùng Phòng ma túy Công an tỉnh Bình Phước phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Căn cứ kết luận giám định số 20/2018/GĐKTHS ngày 19/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: Chất màu trắng đựng trong 43 đoạn ống nhựa (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng là 3,2934 gam, loại Heroine.

Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hành vi tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng của bị cáo Nguyễn Hữu N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật xử lý. Nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có ma túy sử dụng bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Trọng lượng chất Heroin bị cáo tàng trữ là 3,2934 gam. Do vậy, Viện kiểm sát Nhân dân thị xã Phước Long truy tố bị cáo Nguyễn Hữu N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương, là nguyên nhân gây ra các bệnh tật và tệ nạn xã hội khác. Do vậy, cần phải xử bị cáo mức án nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có nhân thân tốt đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cần xem xét khi lượng hình. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về vật chứng vụ án:

Đối với số Heroin hoàn sau giám định được niêm phong có trọng lượng: M = 3,1709 gam cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 1.237.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng gold không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu N.

Về quan điểm của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hữu N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì caùc leõ treân,

QUYEÁT ÑÒNH:

. Căn cứ vào điển c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và điểm 1 mục I danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N (U) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N 01 (một) năm 0`9 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/01/2018.

. Về vật chứng vụ án:

Tịch thu tiêu hủy 3,1709 gam Heroin còn lại sau giám định.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu N số tiền 1.237.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng gold.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hữu N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi Nhận:

Cỡ chữ