vanban.org

Bản án 34/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 27/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Lê Văn D1 phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử pha ̣t Lê Văn D1 18(Mười tám) tháng tù. Thờ i ha ̣n tù tinh từ ngày tạm giữ ́ (06/5/2018). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn D1 tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Lê Văn D1 phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H.YÊN ĐI ̣NH – T.THANH HÓ A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2018/HS-ST
Ngày 27-9-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐI ̣NH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kỳ Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Nguyệt.

2. Bà Hoàng Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Yên Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh, Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2018 tại Tru ̣ sở Tòa án nhân dân huyê ̣n Yên

Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa xét x ử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên : Lê Văn D1, sinh ngày 01 tháng 3 năm 1975 tại xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa . Nơi cư trú: Thôn Văn Hanh, xã Vĩnh Phúc, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Viê ̣t Nam; con ông: Lê Văn D2 (đã chết) và bà: Lê Thị C, sinh năm 1945; bị cáo có vợ và đã ly hôn, có một con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/5/2018 đến ngày 12/5/2018 thì chuyển ta ̣m giam ta ̣i tra ̣i ta ̣m giam Công an Thanh Hóa.

Bị cáo tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

- Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn H1.

Trú tại: thôn Văn Hanh, xã Vĩnh Phúc, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa.

- Ngườ i là m chứ ng: + Nguyễn Mạnh H2.

Trú tại: Phố Kiểu, xã Yên Trường, Yên Định, Thanh Hóa.

+ Nguyễn Văn H3.

Trú tại: thôn Văn Hanh, xã Vĩnh Phúc, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và toàn bộ người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 06/5/2018, Lê Văn D1 đi bộ từ nhà ở thôn Văn Hanh, xã Vĩnh Phúc, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa đến khu vực cầu Kiểu, xã Yên Trường, Yên Định, Thanh Hóa để mua ma túy về sử dụng, khi đến khu vực cầu Kiểu thuộc địa phận xã Yên Trường, Yên Định thì D1 gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi và địa chỉ tầm 35 tuổi đội mũ phớt màu đen đứng trên cầu Kiểu, D1 hỏi mua ma túy thì người này đồng ý lấy ra một gói Heroin và bán cho D1 với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma túy, D1 đi vào chợ Kiểu mua đồ ăn, khi đang từ chợ Kiểu ra Quốc lộ 45 thì bị tổ tuần tra Công an huyện Yên Định kiểm tra phát hiện D1 đang cầm trong tay 1 gói nhỏ bọc bằng giấy thiếc màu vàng, bên trong có chứa các cục chất bột màu trắng ngà nghi là Heroin sau đó đưa D1 cùng tang vật về Công an huyện Yên Định để giải quyết.

Sau khi D1 bị bắt giữ, Công an huyện Yên Định đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của D1 tại thôn Văn Hanh, xã Vĩnh Phúc, Vĩnh Lộc thì thu giữ được 1 gói nhỏ bọc bằng giấy màu trắng, bên trong có các cục chất bột màu trắng ngà nghi là Heroin cùng số tiền 600.000đ để trong hộp nhựa màu đen để trên kệ tường; 01 gói bọc bằng giấy thiếc màu vàng, bên trong có các cục chất bột màu trắng ngà nghi là Heroin được bọc trong túi nilon màu hồng để trong hốc gạch cách cửa ra vào phía sau nhà D1 70cm.

Ngày 07/5/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Định đã ra quyết định trưng cầu giám định để yêu cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa tiến hành giám định số ma túy thu giữ của Lê Văn D1. Tại bản kết luận giám định số 943/PC45-MT ngày 09/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: “Các cục chất bột màu trắng ngà của phong bì mặt trước ghi “Lê Văn D1” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,22g loại Heroin”; “Chất bột màu trắng ngà của gói giấy nhỏ màu trắng trong phong bì kí hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,033g, loại Heroin”; “Chất bột màu trắng ngà của gói giấy thiếc màu vàng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 5,123g, loại Heroin”.

Quá trình điều tra, Lê Văn D1 khai nhận về hành vi mua ma túy tại khu vực cầu Kiểu, xã Yên Trường ngày 06/5/2018 và hành vi cất giấu 01 gói Heroin tại nhà ở thôn Văn Hanh, xã Vĩnh Phúc, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, số ma túy cất giấu tại nhà là mua của một người không quen biết tại khu vực cầu Kiểu, xã Yên Trường từ ngày 05/5/2018 với giá 100.000đ và D1 đã sử dụng 1 ít sau đó cất giấu ở nhà và để ở đâu D1 không nhớ.

Đối với gói Heroin bọc bằng giấy thiếc màu vàng, có trọng lượng 5,123g mà Công an thu phát hiện, thu giữ tại hốc gạch phía sau nhà D1, nơi gần cửa ra vào D1 không biết, không thừa nhận là của mình và không có cơ sở chứng minh số ma túy này của ai.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSYĐ ngày 05/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh đa truy tỗ

́ bi ̣ cáo Lê Văn D1 về tô ̣i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh vẫn giữ nguyên quyết đi ̣nh truy tố Lê Văn D1 về tô ̣i “tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật và tuyên phạt bị cáo cụ thể như sau:

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 của Bộ luâ ̣t Hinh sự.

̀

Xử pha ̣t Lê Văn D1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thờ i ha ̣n tù tinh từ ngày tạm

́ giữ.

Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy số Heroin thu giữ trong người của bị cáo và khi khám xét nhà của bị cáo.

Trả lại bị cáo số tiền 600.000đ thu giữ được khi khám nhà bị cáo vì không liên quan đến việc phạm tội.

Về án phi: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

́

̀

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Đi ̣nh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Đi ̣nh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Hầu hết các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử phát hiện trường hợp Cơ quan điều tra khi khám xét chỗ ở của Lê Văn D1 đã không thực hiện đúng các quy định của pháp luật đó là: Khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn D1, Cơ quan CSĐT không cho D1 được tham gia khám xét và cũng không có sự chứng kiến của người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở theo quy định của điều 195 của BLTTHS. Theo lệnh khám xét khẩn cấp số 15/CSĐT ngày 06/5/2018 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Định ra lệnh khám xét chỗ ở của Lê Văn D1, tuy nhiên khi điều tra viên thực hiện việc khám xét đã mở rộng phạm vi khám xét ra ngoài phạm vi chỗ ở của Lê Văn D1, thuộc phần đất ở của ông Nguyễn Văn H1 là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Lê Văn D1 và ông Nguyễn Văn H1.

Vì vậy Hội đồng xét xử đã ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhằm làm rõ việc không cho người bị khám xét chỗ ở hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở tham gia việc khám xét cũng như việc mở rộng phạm vi khám xét nhưng Viện kiểm sát không thực hiện.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo cho rằng mình không hiểu các quy định của pháp luật nên không biết việc được tham gia khi khám xét chỗ ở nên khi Công an huyện yêu cầu bị cáo đưa chìa khóa để mở cửa, bị cáo đã đưa mà không có ý kiến gì.

Do khoản 2 điều 174 BLTTHS quy định Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung 1 lần và khoản 3 điều 280 của BLTTHS quy định “trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án” vì vậy tuy thấy rằng có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và làm thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của bị cáo nhưng Tòa án vẫn phải đưa vụ án ra xét xử.

[2] Về hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo Lê Văn D1:

Ngày 06/5/2018, sau khi mua một gói Heroin có trọng lượng 0,22g của một người đàn ông không rõ tên, tuổi và địa chỉ tại cầu Kiểu, xã Yên Trường, Yên Định Lê Văn D1 đi vào chợ Kiểu để mua đồ ăn, khi từ chợ đi ra đường Quốc lộ 45 thì bị Công an huyện Yên Định phát hiện D1 đang cầm trên tay 1 gói Heroine trọng lượng 0,22g nên bị lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, khi khám xét nhà của Lê Văn D1 tại xã Vĩnh Phúc, huyện Vĩnh Lộc thì thu giữ được 1 gói Heroine có trọng lượng 0,033g cùng với số tiền 600.000đ mà bị cáo để trong hộp nhựa màu đen cất trong hộc tường. Ngoài ra, khi khám nhà còn thu giữ được 1 gói Heroine có trọng lượng 5,123g ở trong hốc gạch cách phía ngoài cổng phía sau nhà của bị cáo 70cm, tuy nhiên số Heroine này bị cáo không thừa nhận là của mình và không có căn cứ để chứng minh đây là số ma túy của bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận 2 gói Heroine có trọng lượng 0,22g và 0,033g là của bị cáo và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vâ ̣y, Hô ̣i đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luâ ̣n Lê Văn D1 phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy đi ̣nh ta ̣i điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự . Do đó bản cáo tra ̣ng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh , Thanh Hóa đa truỹ tố bi ̣ cáo Lê Văn D1 về tô ̣i “ tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở , đúng ngườ i, đúng tô ̣i và đúng quy đi ̣nh của pháp luật.

[3] Tính chất nguy hiểm cho xã hội của vụ án , nhân thân bi ̣ cáo và các tinh

̀ tiết tăng nă ̣ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

- Tính chất nguy hiểm cho xã hội của vụ án : Heroine là một loại chất cấm, những người sử dụng Heroine sẽ mất đi việc kiểm soát hành vi của mình, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng. Cũng vì việc sử dụng ma túy đã làm cho bao nhiêu gia đình tan vỡ và việc sử dụng ma túy là một trong những con đường lây lan căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS chưa có thuốc chữa trị đặc hiệu, việc sử dụng ma túy cũng đã làm phát sinh rất nhiều loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là một người nghiện ma túy, đã được các tổ chức đoàn thể giáo dục về tác hại ma túy nhưng bị cáo không thấy được sự nguy hiểm trong việc sử dụng để từ đó từ bỏ ma túy mà vẫn đi mua ma túy về sử dụng, vì vậy đã phạm tội. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dụng bị cáo và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối vớ i bị cáo.

- Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh sự: Bị cáo

̀ là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Để tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy cần phải áp dụng điều 38 của Bộ luật hình sự để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Đối với số ma túy thu được khi khám xét chỗ ở của bị cáo và thu được tại hốc gạch cách cổng phía sau nhà bị cáo 70cm và có trọng lượng 5,123g không có cơ sở kết luận là của bị cáo và không chứng minh được đây là số ma túy của ai nên Cơ quan điều tra không khởi tố và Viện kiểm sát không truy tố đối với số ma túy này là đúng với quy định của pháp luật.

[4] Xử lý vâ ̣t chứ ng, án phí;

- Xử lý vâ ̣t chứ ng: Số ma túy thu giữ được trong người bị cáo và thu giữ được khi khám xét chỗ ở của bị cáo thấy rằng ma túy là một loại hàng hóa được nhà nước thống nhất quản lý, cấm lưu hành, vì vậy cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với số tiền 600.000đ thu giữ khi khám xét chỗ ở của bị cáo xác định được số tiền này không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là phù hơp với quy định của pháp luật.

- Về án phi: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản2

́ điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự vàkhoản 1 điều 21, điểm a khoản1 điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự.

̀

Tuyên bố Lê Văn D1 phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử pha ̣t Lê Văn D1 18(Mười tám) tháng tù. Thờ i ha ̣n tù tinh từ ngày tạm giữ

́ (06/5/2018).

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự ; điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự.

̀

Tịch thu tiêu hủy 0,253g Heroine thu giữ được của Lê Văn D1 và 5,123g Heroine thu giữ được khi khám xét chỗ ở của Lê Văn D1 được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được niêm phong bởi các hình dấu và chữ kỹ của Nguyễn Trần Đăng, Trịnh Ngọc Hanh, Trần Thị Thúy Hằng, hiện đang tạm giữ tại Chi cục THADS huyện Yên Định theo phiếu nhập kho số NK000250 ngày 09/7/2018.

Trả lại Lê Văn D1 số tiền 600.000đ hiện đang tam giữ tại Chi cục THADS huyện Yên Định theo biên lai thu tiền số AA/2015/0000158 ngày 09/7/2018.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Lê Văn D1 phải nộp 200.000đ án phi hinh sự sơ thẩm.

́ ̀

3. Quyền kháng cáo : Án xử công kha i có mă ̣t bi ̣ cáo vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án , người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mă ̣t được quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ