vanban.org

Bản án 34/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội Tuyên án 29/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".

Phạt: Bị cáo Bùi Văn N 07 (bẩy) N tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Phạt: Bị cáo Bùi Văn N 07 (bẩy) năm tù về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy". Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn N cùng đồng phạm ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2018/HS-ST
Ngày: 29-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Trí Tuyển. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hiếu. Ông Phùng Văn Thảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê Mai – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Ngô Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2018/HSST-QĐ ngày 16 tháng 8 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Bùi Văn N, sinh N 1977; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: thôn X, xã T, huyện X, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Vợ: Nguyễn Thị O; Con: có 02 con, lớn 19 tuổi, nhỏ 16 tuổi; Con ông: Bùi Đức V (đã chết) và bà Phạm Thị Đ; Tiền án, tiền sự: chưa (Theo danh chỉ bản số 203 lập ngày 07/4/2018 tại Công an huyện Phú Xuyên và lý lịch bị can phản ánh); Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2018 đến nay (có mặt).

2. Đinh Văn L, sinh N 1986; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: thôn Đ, xã G, huyện T, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Vợ: Nguyễn Thị Thanh P; Con: có 02 con, lớn 05 tuổi, nhỏ 03 tuổi; Con ông: Đinh Văn T (đã chết) và bà Nghiêm Thị L; Tiền án: chưa (Theo danh chỉ bản số 202 lập ngày 07/4/2018 tại Công an huyện Phú Xuyên và lý lịch bị can phản ánh); Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2018 đến nay (có mặt).

3. Nghiêm Văn P, sinh N 1991; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: thôn Đ, xã G, huyện T, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Vợ, con: chưa có; Con ông: Nghiêm Văn D và bà Lê Thị N; Tiền án, tiền sự: chưa (Theo danh chỉ bản số 204 lập ngày 07/4/2018 tại Công an huyện Phú Xuyên và lý lịch bị can phản ánh); Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2018 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 06/4/2018, tại nhà Bùi Văn N, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy bắt quả tang 04 đối tượng gồm Bùi Văn N, Nghiêm Văn P, Đinh Văn L, Vũ Văn Thêm (sinh N 1990, trú tại: xã Bạch Hạ, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội) đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ gồm:

- Thu giữ của N: 01 gói giấy kẻ màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là Heroin) trên mặt phản nơi 04 đối tượng đang ngồi; 01 gói giấy kẻ màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là Heroin) tại túi quần bên trái đằng trước của N; 17 gói nhỏ được bọc giấy kẻ màu trắng, 01 túi ni lon màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng và 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng tất cả đựng trong vỏ bao thuốc la NO 555 cất giấu dưới gầm phản gỗ, 02 điện thoại di động một chiếc Iphone màu cát vàng và một chiếc điện thoại màu trắng không rõ nhãn hiệu cùng số tiền 2.560.000đồng trong túi quần của N.

- Thu giữ của P và L 01 gói giấy kẻ màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng trên mặt phản, 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng có BKS 90B1 – 05809.

- Thu giữ của Thêm 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius có BKS 29U1 – 16590.

Khám nhà ở của N, Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ: 01 túi nilon bên trong chứa chất bột màu trắng trên giá sách trong phòng ngủ của N; 05 gói nilon bên trong chứa chất nhựa màu đen (nghi là thuốc phiện) tại tủ chè phía bên trái tại phòng khách; 01 hộp gỗ bên trong có tư trang và tiền mặt trong ngăn kéo tủ quần áo; 01 quả cầu bằng kim loại màu vàng có ghi LĐ – 01 – HL; 03 – 2011 – 17 phía trên có mỏ bằng kim loại ghi NLĐ – 01CT; 46 – 2012 – 29 .

Tại Kết luận giám định số 3457A/KLGĐ – PC 54 ngày 13/4/2018 kết luận:

- Chất bột màu trắng bên trong 19 gói và 02 túi ni lon thu giữ của N đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng 12,764gam.

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon thu giữ của N là ma túy loại Methamphetaminne khối lượng 1,752gam.

- Chất màu đen bên trong 01 gói nilon thu giữ của N có khối lượng 4,045gam, không tìm thấy thành phần chất ma túy.

- Chất màu đen bên trong 04 gói nilon thu giữ của N có tổng khối lượng 7,288gam, đều là thuốc phiện.

Tại Kết luận giám định số 3430/KLGĐ – PC 54 ngày 11/4/2018 kết luận:

- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilon thu giữ của P và L là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,105gam.

Tại Kết luận giám định số 1090/C54 – P2 ngày 24/4/2018 kết luận:

- Mẫu vật gửi giám định là mô hình lựu đạn dạng mỏ vịt, vỏ bằng kim loại, thường được dùng trong huấn luyện quân sự, không phải là vũ khí quân dụng.

* Tại cơ quan Cảnh sát điều tra ban đầu Bùi Văn N khai nhận:

Khoảng 8 giờ 45phút ngày 06/4/2018 khi N đang ở nhà thì có P và L đến gặp và hỏi mua ma túy, N đồng ý bán cho P 01 gói ma túy với giá 100.000đồng. Sau khi có được ma túy P gọi L sử dụng ma túy ngay trên phản trong nhà để xe nhà N. N cũng bỏ một gói ma túy ra sử dụng cùng với P và L. Khi cả ba đang sử dụng ma túy thì có Thêm đến chơi và hỏi mua ma túy, N đồng ý bán cho Thêm 01 gói ma túy với giá 100.000đồng. Thêm cũng bỏ gói ma túy vừa mua được sử dụng ngay tại phản cùng với P, L và N. Khi cả 4 đối tượng đang sử dụng ma túy thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra bắt quả tang. Về nguồn gốc số ma túy N khai:

- Toàn bộ số Heroin là do N mua của một người phụ nữ tên là Hồng tại ga Tía, huyện Thường Tín, Hà Nội với giá 2.400.000đồng. Sau khi mua được Heroin N chia nhỏ ra thành các gói để bán kiếm lời.

- Số ma túy tổng hợp Mehtamphetamine N mua của một người đàn ông tên Huy tại Đồng Văn, Duy Tiên, Hà Nam, mục đích vừa để sử dụng và bán kiếm lời.

- Số thuốc phiện là để chữa bệnh do Dũng ở chợ Bái, Minh Tân, Phú Xuyên, Hà Nội cho.

* Nghiêm Văn P, Đinh Văn L khai:

Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 06/4/2018, L đi xe máy BKS: 90B1 – 05809 đên nhà P rồi rủ P đi mua ma túy về cùng sử dụng. Cả hai góp mỗi người 50.000đồng, L chở P đến nhà Bùi Văn N tại thôn Bái Xuyên, Minh Tân, Phú Xuyên, Hà Nội. L chờ P ngoài cổng ngõ, P vào mua 01 gói ma túy của N với giá 100.000đồng/01 gói. Sau khi mua được ma túy P gọi L vào rồi cả hai cùng sử dụng ma túy trên phản tại nhà N. Khi đang sử dụng chưa hết gói ma túy vừa mua được thì bị Cơ quan điều tra bắt quả tang.

* Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Vũ Văn Thêm khai: Khoảng 9 giờ ngày 06/4/2018, Thêm đi xe máy đến nhà N và mua một gói Heroin của N với giá 100.000 đồng.Thêm ngồi trên phản nhà N sử dụng hết. Khi đang ngồi trên phản cùng N, P, L thì bị Công an vào bắt quả tang.

Các bị can Bùi Văn N, Đinh Văn L, Nghiêm Văn P đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự gì. Quá trình điều tra Đinh Văn L và Nghiêm Văn P khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Riêng Bùi Văn N có biểu hiện quanh co không khai báo thành khẩn về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên hành vi phạm tội của N đã được chứng minh bởi lời khai ban đầu của N, lời khai của P, L, Thêm và biên bản bắt người phạm tội quả tang tại các bút lục 51, 52; 72 -75; 87 – 90; 97 – 100.

 Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc hộp gỗ bên trong có tiền và đồ trang sức mà cơ quan Điều tra thu giữ tại nhà Bùi Văn N. Quá trình điều tra xác định được tiền và đồ trang sức thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Oanh (Sn 1978; trú tại: Bái Xuyên, Minh Tân, Phú Xuyên, Hà Nội), chị Oanh là vợ của Bùi Văn N. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả toàn bộ hộp gỗ và số tiền cùng đồ trang sức bên trong cho chị Oanh. Chị Oanh đã nhận lại và không có ý kiến gì.

Đối với chiếc xe máy có BKS: 90B1 – 05809 nhãn hiệu Yamaha mà Cơ quan điều tra – Công an huyện Phú Xuyên đã thu giữ của Đinh Văn L. Quá trình điều tra xác định được chiếc xe thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Thanh P (Sn 1990; Trú tại: Châu Giang, Duy Tiên, Hà Nam), chị P là vợ của Đinh Văn L. Việc L dùng chiếc xe trên để đi mua bán ma túy chị P không biết. Cơ quan Điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho chị P chiếc xe, chị P đã nhận lại chiếc xe và không có yêu cầu gì về dân sự.

Đối với chiếc xe máy có BKS: 29U1 – 16590 nhãn hiệu Yamaha mà Cơ quan điều tra – Công an huyện Phú Xuyên đã thu giữ của Vũ Văn Thêm, Thêm khai mua tại cửa hàng Trường Lan tại Tri Thủy, Phú Xuyên với giá 11.000.000đồng. Quá trình điều tra xác định được chiếc xe đăng ký mang tên Chu Thị Nga (Sn 1990; trú tại: Thanh Vị, Thanh Mỹ, Sơn Tây, Hà Nội), chị Nga làm mất chiếc xe tại địa phận huyện Hoài Đức vào khoảng tháng 2 N 2015. Cơ quan Điều tra đã chuyển chiếc xe cùng tài liệu liên quan đến chiếc xe đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Hoài Đức để tiếp tục điều tra làm rõ.

Đối với 02 chiếc điện thoại di động 01 cái Iphone màu cát vàng, một cái màu trắng không rõ nhãn hiệu thu giữ của N. Quá trình điều tra xác định được Bùi Văn N không dùng 02 chiếc điện thoại này để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy.

Tại phiên toà:

Các bị cáo Đinh Văn L, Nghiêm Văn P khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố đúng với hành vi các bị cáo đã thực hiện. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra hối hận và đề nghị Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Bùi Văn N thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội tuy nhiên bị cáo khai báo quanh co về hành vi đã thực hiện, bị cáo đề nghị Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Bản cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 18/7/2018, VKSND huyện Phú Xuyên truy tố Bùi Văn N về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm c, i khoản 2 Điều 251 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự N 2015 sửa đổi bổ sung N 2017; truy tố P và L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" Theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự N 2015 sửa đổi bổ sung N 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Phú Xuyên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: xử phạt Bùi Văn N từ 7 đến 8 N tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; từ 7 đến 8 N tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Bùi Văn N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 14 đến 16 N tù; xử phạt Đinh Văn L, Nghiêm Văn P từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo; Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy vật chứng là ma túy và mô hình quả lựu đạn; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Bùi Văn N là tiền mua bán ma túy; Trả lại cho Bùi Văn N 02 ĐTDĐ và số tiền 2.360.000đ không liên quan đến hành vi phạm tội.

Lời nói sau cùng các bị cáo Bùi Văn N, Đinh Văn L, Nghiêm Văn P thành khẩn nhận tội, hứa sẽ sửa chữa, đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét lời khai của các bị cáo Đinh Văn L, Nghiêm Văn P tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ, cũng như xét về không gian, thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, mặc dù bị cáo Bùi Văn N khai báo quanh co về hành vi đã thực hiện, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 06/4/2018, tại nhà của mình thuộc địa phận thôn Bái Xuyên, xã Minh Tân, Phú Xuyên, Hà Nội, Bùi Văn N đã có hành vi bán 01 gói Heroin cho Nghiêm Văn P và Đinh Văn L với giá 100.000đồng; Bán một gói Heroin cho Vũ Văn Thêm với giá 100.000đồng.Sau đó, Bùi Văn N cùng với P, L và Thêm sử dụng ma túy tại nhà để xe của N, khi N và các đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an huyện Phú Xuyên bắt quả tang.

- Thu giữ của Nghiêm Văn P và Đinh Văn L 01 gói ma túy đang sử dụng dở có khối lượng 0,105 gam Heroin;

- Thu giữ của Bùi Văn N 12,764 gam Heroi;1,752gam Methamphetamine; 7,288 gam nhựa thuốc phiện;

Đối chiếu quy định của pháp luật, hành vi của Bùi Văn N đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm c, i khoản 2 điều 251 và phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng ma túy” quy định tại điểm d khoản 2 điều 256 BLHS, hành vi của Đinh Văn L và Nghiêm Văn P đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS N 2015 sửa đổi bổ sung N 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên truy tố các bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Ma túy là hiểm hoạ của xã hội bởi ma túy là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh dẫn đến chết người, làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức, lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để kịp thời đấu tranh phòng chống tội phạm, cần thiết phải xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để các bị cáo thấm thía với tội lỗi của mình mà trở về con đường lương thiện, đồng thời cũng là để làm gương cho những kẻ khác.

Về vai trò của các bị cáo: Bùi Văn N là người bán ma túy, chứa chấp việc sử dụng ma túy nên có vai trò cao nhất trong vụ án, Nghiêm Văn P có vai trò tiếp theo, Đinh Văn L có vai trò thấp nhất.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nghiêm Văn P và Đinh Văn L đã khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, do đó cần cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bùi Văn N khai báo quanh co về hành vi phạm tội nhưng đã thành khẩn nhận tội nên cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Nghiêm Văn P có thân nhân là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, khi lượng hình, có thể giảm nhẹ một phần hình phạt, chứng tỏ sự nhân đạo của pháp luật để các bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với Vũ Văn Thêm có hành vi mua ma túy của Bùi Văn N để sử dụng cho bản thân. Khi bị bắt giữ Thêm đã sử dụng hết số ma túy mua được của N, nên không xác định được khối lượng ma túy. Cơ quan Điều tra căn cứ vào Khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/201/NĐ – CP ra quyết định xử phạt hành chính đối với Vũ Văn Thêm bằng hình thức phạt cảnh cáo là có căn cứ.

Quá trình điều tra N khai số ma túy mà N có được là mua của Hồng ở ga Tía, Thường Tín, Hà Nôi; Huy ở Đồng Văn, Duy Tiên, Hà Nam; Dũng ở chợ Bái, Tri Thủy, Phú Xuyên, Hà Nội. Cơ quan điều tra đã điều tra xác minh nhưng đến nay vẫn chưa xác định được các đối tượng này nên Cơ quan cảnh sát điều tra tách phần tài liệu liên quán đến các đối tượng để điều tra xử lý sau.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên không áp dụng.

- Về vật chứng: Do cơ quan điều tra thu giữ là 01 gói ma túy đang sử dụng dở có khối lượng 0,105 gam Heroin và 12,764 gam Heroi;1,752gam Methamphetamine; 7,288 gam nhựa thuốc phiện là chất độc hại nên cần tịch thu và tiêu huỷ. 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của N không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền mua bán ma túy 200.000 đồng thu giữ của Bùi Văn N, trả lại cho bị cáo 2.360.000 đồng.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm c, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Phạt: Bị cáo Bùi Văn N 07 (bẩy) N tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Phạt: Bị cáo Bùi Văn N 07 (bẩy) năm tù về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".

Tổng hợp hình phạt: Áp dụng điều 55 BLHS buộc bị cáo Bùi Văn N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2018.

2. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn L và Nghiêm Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy";

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (Áp dụng thêm khoản 2 điều 51 BLHS đối với Nghiêm Văn P):

Phạt: Bị cáo Đinh Văn L 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2018.

Phạt: Bị cáo Nghiêm Văn P 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2018.

2. Về vật chứng: Căn cứ điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS:

* Tịch thu và tiêu huỷ:

+ 02 phong bì niêm phong chứa ma túy đã thu giữ; phong bì thứ nhất chứa 12,764 gam Heroin;1,752gam Methamphetamine; 7,288 gam nhựa thuốc phiện; phong bì thứ hai chứa 0,105 gam Heroin;

+ 01 vỏ bao thuốc lá màu xanh đã cũ có chữ 555 bên trong chứa nhiều giấy kẻ ô vuông;

+ 01 hộp bìa cát tông màu xanh có chữ Trà Tre Việt Nam không niêm phong bên trong có chứa 01 vật hình cầu bằng kim loại, sơn màu cam.

(Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục THADS huyện Phú Xuyên theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 24/7/2018).

* Trả lại cho Bùi Văn N 01 điện thoại di động đã cũ màu trắng nhãn hiệu Masstel có số IMEI 864412025238140 và 01 điện thoại di động đã cũ hiệu Iphone màu cát vàng có số IMEI 013346008053037.

(Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục THADS huyện Phú Xuyên theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 24/7/2018).

* Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng, trả lại cho Bùi Văn N số tiền 2.360.000 đồng (Hiện do Chi cục THADS huyện Phú Xuyên quản lý theo Ủy nhiệm chi lập tháng 7/2018 của Công an huyện Phú Xuyên).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 - BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 BLTTHS:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ