- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH –––––––––––––––- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2018/HS-ST Ngày 28 – 6 - 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Văn Rạng.
Ông Đàm Văn Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Đinh Văn P – Sinh ngày: 20/10/1991 – tại Nam Định.
Nơi cư trú: Phố T, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha đẻ là ông Đinh Minh T, sinh năm 1959, mẹ đẻ là bà Lương Thị H, sinh năm 1962, hiện cả hai đang làm ruộng ở phố T, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định, gia đình có 03 anh em, P là con thứ ba; vợ, con: chưa có; tiền án: Ngày 30/9/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/4/2018 đến ngày 20/4/2018 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, có mặt;
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn V – Sinh năm: 1965;
Nơi cư trú: Phố T, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo Đinh Văn P về hành vi phạm tội: Hồi 9 giờ 30 phút ngày 17/4/2018, tại nhà Đinh Văn P, sinh năm 1991, ở phố T, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định, tổ công tác Công an huyện N phát hiện bắt quả tang Đinh Văn P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên chiếu trải giữa gian phòng khách nhà P 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc màu trắng, P khai đó là dụng cụ để P sử dụng heroine và thu giữ của P 01 gói nhỏ, vỏ gói là giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (Niêm phong ký hiệu M), P khai đó là heroine P mua về để sử dụng cho bản thân.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Văn P ở phố T, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản kết luận giám định số 344/GĐKTHS ngày 17/4/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M: 0,133 gam.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Đinh Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và khai nhận: Khoảng 7 giờ ngày 17/4/2018, P đi xe buýt từ nhà lên khu vực Big C, thành phố Nam Định mua của 01 người không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói heroine với giá 200.000 đồng. Sau đó, P cất gói heroine ở trong túi quần trước bên phải P đang mặc rồi bắt xe buýt về nhà. Đến khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, P mang 01 gói heroine vừa mua được ra để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng bị thì phát hiện bắt quả tang.
Bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 17/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo Đinh Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như tội danh và điều luật đã nêu; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Đinh Văn P từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù; Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng; Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay qua xét hỏi và tranh luận bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu.
Bị cáo nói lời sau cùng: Tự nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã ăn năn hối lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và xin miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người làm chứng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Đinh Văn P tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay. Như vậy đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 9 giờ 30 phút ngày 17/4/2018, tại nhà Đinh Văn P, sinh năm 1991, ở phố T, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định, P đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,133 gam heroine, mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện N phát hiện bắt quả tang. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn hoá của dân tộc. Đối chiếu với quy định của Bộ luật hình sự thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Đinh Văn P đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện N để xem xét với tội danh và điều luật như đã viện dẫn là có căn cứ theo quy định của pháp luật. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây nên dư luận xấu trong nhân dân ở khu vực. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai, lên án xử lý nghiêm minh là cần thiết nhằm góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có tiền án: Ngày 30/9/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 01/9/2016, Đinh Văn P chấp hành xong án phạt tù, đến ngày 17/4/2018, P chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự, hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 17/4/2018 của P đã mang tính chất tái phạm, vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét thấy trong quá trình tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, có sự ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình Sự. Xét thấy cần thiết phải cách ly để tập trung giáo dục, cải tạo bị cáo một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện cải tạo, rèn luyện bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định vẫn sống phụ thuộc gia đình nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh Văn P là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc màu trắng thu giữ tại nhà Đinh Văn P và 0,092gam heroine mà Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đinh Văn P ngày 17 tháng 4 năm 2018 tại khu vực khu vực khu vực Big C, thành phố Nam Định , hiện chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đinh Văn P phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, Điều136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào các Điều 106, 135, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1]. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
[2]. Xử phạt Đinh Văn P 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2018.
[3]. Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 0,092 gam heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói thu giữ của Đinh Văn P mà Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định hoàn trả sau giám định.
Toàn bộ vật chứng của vụ án đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 18/5/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N với Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.
[4]. Buộc bị cáo Đinh Văn P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh; - VKS nhân dân Tỉnh + huyện; - Công an huyện; - Cơ quan Thi hành án; - Bị cáo; - UBND thị trấn L; - Án văn + lưu hồ sơ; - Thi hành án phạt tù. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Hùng Phƣơng |