- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2018/HS-ST Ngày 19-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Hữu Luật;
Bà Trần Thị Luận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Sách.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị La - Kiểm sát viên.
.
Ngày 19 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam sách tỉnh Hải
Dương, xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 31/2018/HS-ST ngày 28/6/2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1992;
ĐKHKTT và cư trú tại: Thôn V, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1968 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1969; vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1997;
Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 05/6/2018 đến ngày 11/6/2018 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương; (có mặt).
- Người có quyền lợi liên quan: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1997 - ( có mặt)
Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương;
- Người chứng kiến: Ông Mạc Đức C, sinh năm 1957;
Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương - (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 05/6/2018 Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đen trắng, biển kiểm soát 14P5-9369 từ nhà đến thôn Lai Khê, xã Cộng Hòa, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương để mua ma túy về sử dụng. Tại đây H gặp và mua ma tuý đá của người đàn ông không rõ tên, địa chỉ với số tiền 800.000đồng. Người đàn ông đưa cho H 01 gói nilon màu trắng kích thước 3cm x 6cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy dạng đá được bọc trong tờ giấy màu hồng, bên ngoài có dán băng dính màu đen. H dùng băng dính đen quấn quanh gói ma túy và dán gói ma túy vào mặt đồng hồ công tơ met của xe mô tô Exciter rồi đi về nhà. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi H đi đến ngã ba thuộc địa phận thôn Tháp Phan, xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách thì bị Công an huyện Nam Sách bắt quả tang cùng thu giữ vật chứng.
Tại kết luận giám định số 384/KLGĐ ngày 08/6/2018 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng ghi thu của Nguyễn Văn H gửi đến giám định có khối lượng 1,955gam là loại Methamphetamin. Về vật chứng: 1,803 gam Methamphetamin hoàn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư số 384/KLGĐ - PC54.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận quá trình phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của VKS nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đã truy tố.
Bản cáo trạng số 31/VKS-HS ngày 27 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, giữ nguyên cáo trạng
truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS. Điểm a khoản 2, 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí. Xử phạt bị cáo Hiệp từ 22 đến 25 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ 05/6/2018 . Hình phạt bổ sung không áp dụng; Vật chứng: Tịch thu cho hủy bỏ 1,803 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đen trắng, biển kiểm soát 14P5-9369 có số khung CE1S9407Y002012, số máy 1s-002012 bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của bị cáo và chị L (vợ bị cáo). Khi bị cáo sử dụng xe vào việc thực hiện hành vi phạm tội chị L không biết, nên trả lại 1/2 trị giá tài sản trên cho chị L, 1/2 giá trị còn lại thuộc quyền sở hữu của H tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam
Sách, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo H tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến là ông Mạc Đức C, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05/6/2018 tại địa phận thuộc thôn Tháp Phan, xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách Nguyễn Văn H có hành vi cất giấu trái phép 1,955 gam Methamphetamin, mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Methamphettamine là chất ma túy rất độc, gây nghiện, gây nguy hại cho cơ thể người sử dụng, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, ảnh hưởng đến kinh tế của cả xã hội. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn trong xã hội. Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc với bị cáo.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thật thà khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 BLHS, bị cáo còn có thể phải bị phạt tiền. Tuy nhiên, do bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản riêng, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền với bị cáo.
Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS, Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS về xử lý vật chứng: 1,803gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong bì thư số 384/KLGĐ - PC54 là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đen trắng, biển kiểm soát 14P5-9369 có số khung CE1S9407Y002012, số máy 1s-002012 bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Đăng ký chủ xe là Đặng M, ông M đã bán cho 01 người không rõ địa chỉ nhưng không làm thủ tục chuyển nhượng. Vợ chồng bị cáo đã mua của người không rõ địa chỉ, xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của bị cáo và chị L (vợ bị cáo). Khi bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội, chị L không biết, không có lỗi, nên trả lại 1/2 trị giá tài sản trên cho chị L, 1/2 giá trị còn lại thuộc quyền sở hữu của H tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho H, quá trình điều tra không làm rõ được họ, địa chỉ, nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Nguyễn Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù thời hạn tính từ ngày tạm giữ 05/6/2018, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS, Điểm a khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 1,803gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong bì thư số 384/KLGĐ - PC54. Trả lại 1/2 giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đen trắng, biển kiểm soát 14P5-9369 có số khung CE1S9407Y002012, số máy 1s-002012 cho chị Nguyễn Thị L. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 1/2 giá trị còn lại của chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của H (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nam Sách với Chi cục THA dân sự huyện Nam Sách ngày 10/7/2018).
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đồng án phí sơ thẩm hình sự.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo những nội dung liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ./.
| Nơi nhận: - VKSDND huyện Nam Sách; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Công an huyện Nam Sách; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; -Người có quyền lợi liên quan - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Thị Liên |