vanban.org

Bản án 34/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 24/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình L 18 (Mười tám) tháng tù, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ 09 ngày (từ ngày15/3/2018 đến ngày 23/3/2018). Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trài phép chat ma tuy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM THAO
TỈNH PHÚ THỌ
__________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:34/2018/HS-ST
Ngày 24 tháng 7 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phùng Thị Kim Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lập;

Ông Nguyễn Văn Huyền.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 24/7/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2018/TLST-HS ngày 20/6/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2018/HSST - QĐ ngày 10 tháng 7 năm 2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Đình L, sinh ngày 27/01/1970.

Nơi cư trú: Khu 9, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình K (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1933; có vợ Nguyễn Thị Kim Đ (đã chết); con có 03 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, từ ngày 15/3/2018 đến ngày 23/3/2018 được thay thế biện pháp tạm giữ bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; hiện tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 15/3/2018, tổ công tác Công an huyện Lâm Thao khi đang phối hợp với Công an xã T làm nhiệm vụ tại khu 9, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ đã phát hiện, kiểm tra một nam giới có biểu hiện nghi vấn. Khi bị kiểm tra người này khai tên: Nguyễn Đình L, sinh năm 1970, HKTT: Khu 9, xã T, huyện L đồng thời tự giao nộp 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng, bên trong có chứa chất bột, cục màu trắng đang cầm trên tay trái. L tự khai nhận là gói ma túy (Heroine) đang cầm đến khu vực đồng L thuộc khu 9, xã T để bán cho người đàn ông mà L mới quen biết tên là Đ làm việc ở Trạm nghỉ cao tốc Nội Bài - Lào Cai thuộc khu 9, xã T. Công an huyện L đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Đình L về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ và niêm phong gói chất bột, cục màu trắng của Nguyễn Đình L (Bì số 01) và 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng, cài các sim thuê bao số 0949068266 và 01626645270.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đình L tại khu 9, xã T. Trong qua trình khám xét, Nguyễn Đình L đã tự lấy ra từ phòng ngủ 01 gói giấy có đặc điểm mặt ngoài màu xanh - trắng có in chữ, mặt trong màu trắng, bên trong chứa chất bột, cục màu trắng giao nộp cho Cơ quan điều tra và khai gói giấy đó là gói ma túy (Heroine). Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã thu giữ và niêm phong theo quy định của pháp luật (Bì số 02).

Về nguồn gốc gói ma túy L đem đi để bán và số ma túy cất giấu tại chỗ ở, Nguyễn Đình L khai mua của Triệu Anh D, sinh năm 1971, HKTT: Khu 2, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ vào khoảng 18 giờ ngày 14/3/2018 tại trường THCS xã H, thành phố V (nơi D làm bảo vệ) với giá 400.000 đồng.

Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và nơi làm việc đối với Triệu Anh D. Quá trình khám xét tạm giữ của Triệu Anh D 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA-C2, cài các sim thuê bao số 0943785182 và 0916011918.

Ngày 15/3/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lâm Thao đã trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ giám định đối với chất bột, cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Đình L được niêm phong trong các bì số 01 và số 02 nêu trên. Ngày 19/3/2018, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ có Kết luận giám định số 345/KLGĐ, kết luận:

Mẫu bột, cục màu trắng gói trong một gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng trong bì niêm phong số 01 gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,144 gam, loại Heroine.

Mẫu bột, cục màu trắng gói trong một gói giấy mặt ngoài màu trắng - xanh có in chữ, mặt trong màu trắng trong bì niêm phong số 02 gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,055 gam, loại Heroine.

Ngày 22/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Đình L về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Đình L khai nhận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 14/3/2018, Nguyễn Đình L sử dụng điện thoại di động có các sim thuê bao số 0949068266 và số 01626645270 để gọi đến thuê bao số 0916011918 cho Triệu Anh D hỏi mua ma túy (Heroine) với giá 400.000đồng ( Bốn trăm nghìn đồng). D đồng ý và hẹn L đến trường THCS xã H, thành phố V nơi D làm bảo vệ. Sau đó, L đến chỗ hẹn gặp D và đưa cho D 400.000 đồng ( Bốn trăm nghìn đồng). D cầm tiền và đưa lại cho L 02 gói ma túy đều được gói ngoài bằng giấy màu vàng. Sau khi mua đươc 02 gói ma túy, L đem về nhà lấy một ít ma túy ra sử dụng cho bản thân, số ma túy còn lại L chia ra gói lại thành 02 gói mới: 01 gói bằng giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng và 01 gói bằng giấy mặt ngoài màu xanh - trắng có in chữ, mặt trong màu trắng. Đến khoảng 10 giờ ngày 15/3/2018, Đặng Văn Đ có gọi điện đến số thuê bao 0949068226 cho L hỏi mua 200.000 đồng ma túy. L đồng ý và hẹn gặp Đ đến khu đồng L thuộc khu 9, xã T để bán ma túy cho Đ. Sau đó, L cầm 01 gói ma túy được gói bằng giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng đi đến chỗ hẹn để bán cho Đ. Trên đường L đi đến chỗ hẹn thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang L đang mang gói ma túy đi bán. Gói ma túy còn lại được gói bằng giấy mặt ngoài màu xanh - trắng, có in chữ, mặt trong màu trắng, L cất giấu tại nhà để sử dụng. Khi lực lượng Công an khám xét khẩn cấp chỗ ở của L, L đã tự giao nộp.

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Văn Đ khai: Khoảng 10 giờ ngày 15/3/2018, Đ sử dụng thuê bao di động số 01659707302 gọi đến số thuê bao 0949068226 của L hỏi mua của L 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) ma túy. L đồng ý và hẹn Đ đến khu vực cánh đồng gần trạm nghỉ cao tốc Nội Bài - Lào Cai (Khu đồng L thuộc khu 9, xã T) để nhận tiền và giao ma túy cho Đ. Sau đó, Đ gọi điện thoại cho L, L nghe máy nhưng không nói gì nên Đ không đến chỗ hẹn để mua bán ma túy nữa. Chiếc điện thoại di động có cài sim thuê bao số 01659707302 mà Đ đã dùng để liên lạc với L trao đổi về việc mua bán ma túy, Đ đã vứt đi sau khi biết L bị lực lượng Công an bắt.

Ngoài ra, Đặng Văn Đ khai còn mua 01 gói ma túy với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của Nguyễn Đình L vào ngày 14/3/2018 tại khu vực đồng L và đã sử dụng hết. Tuy nhiên, Nguyễn Đình L không thừa nhận đã bán ma túy cho Đ vào ngày 14/3/2018. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Nguyễn Đình L và Đặng Văn Đ về nội dung này, xong cả hai vẫn giữ nguyên nội dung đã khai báo. Do vậy không có căn cứ để xác định L đã bán ma túy cho Đ vào ngày 14/3/2018.

Tại cơ quan điều tra, Triệu Anh D khai: Triệu Anh D có quen biết với Nguyễn Đình L. Ngày 14/3/2018, Nguyễn Đình L có nhiều lần gọi điện cho D để hỏi mua ma túy. Tuy nhiên Triệu Anh D không có ma túy nên không gặp và không mua bán gì với Nguyễn Đình L. Kết quả điều tra không có đủ cơ sở để xác định D đã bán ma túy cho L như nội dung L đã khai báo.

Vật chứng của vụ án gồm: 0,065 gam chất bột, cục màu trắng (Bì số 1) và 0,017 gam chất bột, cục màu trắng (Bì số 2) được đóng gói trong 01 bì niêm phong số 345/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả lại sau giám định, có 04 chữ ký của Trần Phương O, Nguyễn Phương N, Bùi Anh T, Nguyễn Đình L và 05 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ tại các mép dán; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng, IMEI 1: 353392098988516, IMEI 2: 353392099068516, cài các sim thuê bao số: 01626645270 và 0949068266 được chuyển đến Chi cục thi hành án Dân sự huyện L quản lý chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKS LT ngày 18/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Đình L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình L từ 15 đến 18 tháng tù (Bị cáo được trừ đi 09 ngày bị tạm giữ, từ ngày ngày 15/03/2018 đến ngày 23/03/2018). Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 353392098988516, IMEI 2: 353392099068516 thu giữ của bị cáo L.

- Tịch thu tiêu hủy 0,065 gam chất bột, cục màu trắng (Bì số 1) và 0,017 gam chất bột, cục màu trắng (Bì số 2) được đóng gói trong 01 bì niêm phong số 345/KLGĐ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả lại sau khi giám định, có 04 chữ ký của Trần Phương O, Nguyễn Phương N, Bùi Anh T, Nguyễn Đình L và 5 hình dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.

- Tịch thu tiêu hủy 02 sim số: 01626645270 và 0949068266 thu giữ của bị cáo L không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình L phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại Tòa án và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là phù hợp pháp luật.

Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 15/03/2018, Nguyễn Đình L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,144 gam Heroine với mục đích để bán cho Đặng Văn Đ, sinh năm 1961, ở phố T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an huyện Lâm Thao phát hiện bắt quả tang. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật nghiêm cấm không được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật như sau:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc loại tội nghiêm trọng. không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; bị cáo đã thành khẩn khai báo; đã tích cực giúp đỡ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao phát hiện tội phạm nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh của Cơ quan điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa bị cáo đang ở thửa đất số 523, tờ bản đồ số 27 có diện tích 300 m2 và đất trồng rừng, sản xuất thửa số 355-1A diện tích 1.030m2 cả 2 thửa đất trên đều đứng tên Nguyễn Đình L, song xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và đang nuôi 03 con nhỏ, một mẹ già, vợ bị cáo đã chết do bị tai nạn giao thông, gia đình bị cáo là hộ nghèo có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 14/3/2018 của Đặng Văn Đ, Công an huyện Lâm Thao đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghi định 167/2013/NĐ - CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với Triệu Anh D, kết quả điều tra không có căn cứ để xác định Triệu Anh D đã bán ma túy cho Nguyễn Đình L vào ngày 14/3/2018 như lời khai của L do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao không đề cập xử lý là đúng pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 353392098988516, IMEI 2: 353392099068516, thu giữ của bị cáo L liên lạc bán ma túy cho Đ, đây là công cụ bị cáo L dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp;

Đối với 0,065 gam chất bột, cục màu trắng (Bì số 1) và 0,017 gam chất bột, cục màu trắng (Bì số 2) được đóng gói trong 01 bì niêm phong số 345/KLGĐ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả lại sau khi giám định,có 04 chữ ký của Trần Phương O, Nguyễn Phương N, Bùi Anh T, Nguyễn Đình L và 5 hình dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với 02 sim điện thoại di động số: 01626645270 và 0949068266 thu giữ của bị cáo L - Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội của bị cáo L và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với hành vi tàng trữ 0,055g Heroine tại chỗ ở thuộc khu 9, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ với mục đích để sử dụng của Nguyễn Đình L nhưng L chưa bị xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, không có tiền án về các tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; Sản xuất trái phép chất ma túy; Vận chuyển trái phép chất ma túy; Mua bán trái phép chất ma túy hoặc tội Chiếm đoạt trái phép chất ma túy nên Công an huyện Lâm Thao ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L theo khoản 2, Điều 21, Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là đúng pháp luật.

Đối với chiếc điện thoai di động nhãn hiệu NOKIA-C2 có cài các sim thuê bao số 0943785182 và 0916011918 mà Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Triệu Anh D, kết quả điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Đình L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại chiếc điện thoại trên cho Triệu Anh D xét thấy là đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình L 18 (Mười tám) tháng tù, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ 09 ngày (từ ngày15/3/2018 đến ngày 23/3/2018). Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Đình L 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 353392098988516, IMEI 2: 353392099068516.

- Tịch thu tiêu hủy 0,065 gam chất bột, cục màu trắng (Bì số 1) và 0,017 gam chất bột, cục màu trắng (Bì số 2) được đóng gói trong 01 bì niêm phong số 345/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả lại sau khi giám định, có 04 chữ ký của Trần Phương O, Nguyễn Phương N, Bùi Anh T, Nguyễn Đình L và 5 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.

- Tịch thu tiêu hủy của bị cáo Nguyễn Đình L 02 sim điện thoại di động số: 01626645270 và 0949068266.

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Đình L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ