vanban.org

Bản án 34/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vụ án vắng mặt chị Hoàng Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Hoàng Thị T. Về quan hệ con chung: Giao 03 con chung là Nguyễn Thị Lệ H, sinh ngày 05/10/2005; Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 03/03/2009 và Nguyễn Huỳnh Sao L, sinh ngày 17/11/2012 cho chị T trực …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn anh Nguyễn Văn T và chị Hoàng Thị T"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vụ án vắng mặt chị Hoàng Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 34/2018/HNGĐ-ST
Ngày 22 - 11 - 2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Hòa;

2. Bà Trần Thị Ngọc Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hà – Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2018 về việc "Tranh chấp ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984.

Nơi cư trú: Tổ 17, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1986.

Nơi cư trú: thôn P, xã V, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/7/2018, lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Anh và chị Hoàng Thị T tự nguyện đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Quảng Bình (nay là thị xã B, tỉnh Quảng Bình) cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04/04/2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc tại nhà bố mẹ đẻ của anh Tđược một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình hai vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vả, trong lúc nóng giận có nhiều lần đánh vợ đập chị T. Năm 2012 chị T đưa các con về nhà ngoại ở xã V, thị xã B, Quảng Bình sinh sống. Hai vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Anh nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự sâu sắc, tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.

Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có ba con chung tên là Nguyễn Thị Lệ H, sinh ngày 05/10/2005; Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 03/03/2009 và Nguyễn Huỳnh Sao L, sinh ngày 17/11/2012. Sau khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Trường hợp chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các con thì anh Tcũng đồng ý và anh sẽ cấp dưỡng nuôi các con chung theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung của vợ chồng không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 02/7/2018, Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn đã thụ lý vụ án về việc “Tranh chấp ly hôn” theo đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn T. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn đã triệu tập và thông báo cho các đương sự đến tham gia phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, nhưng chị Hoàng Thị T không có mặt.

Ngày 08/10/2018 Tòa án nhân dân thị xã B đã về địa phương tiến hành lấy lời khai và làm các thủ tục xác minh. Tại biên bản lấy lời khai và biên bản xác minh chị T trình bày: chị đồng ý với lời khai của anh T về quá trình đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung và thực trạng hôn nhân giữa anh chị. Tuy nhiên chị T cho rằng nguyên phát sinh mâu thuẫn là do anh T ngoại tình với người phụ nữ khác, về nhà đánh đập vợ, không lo lắng cho gia đình, con cái. Tòa án đã gửi các giấy triệu tập, thông báo và quyết định đưa vụ án ra xét xử về tại nhà, chị đã nhận được nhưng do gia đình theo công giáo nên chị không thể đến Tòa án để giải quyết ly hôn được, Tòa án cứ giải quyết ly hôn vắng mặt chị. Về con chung, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con vì các con hiện nay sinh sống với chị và học tập ổn định tại địa phương và yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi các con mỗi tháng 4.000.000 đồng.

Ngày 08/7/2018 các con chung Nguyễn Thị Lệ H; Nguyễn Quỳnh N và Nguyễn Huỳnh Sao L có đơn trình bày nguyện vọng chung của các cháu với nội dung: các cháu hiện đang sinh sống ổn định cùng với mẹ và đang học tập tại địa phương nên các cháu cùng có nguyện vọng ở với mẹ.

Ý kiến kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện và chấp hành quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Bị đơn chị Hoàng Thị T không chấp hành các quy định của pháp luật, không chấp hành các văn bản tố tụng của Tòa án, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình: xét xử vụ án vắng mặt chị Hoàng Thị T; xử cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Hoàng Thị T.

Về quan hệ con chung: giao các con chung Nguyễn Thị Lệ H, sinh ngày 05/10/2005; Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 03/03/2009 và Nguyễn Huỳnh Sao L, sinh ngày 17/11/2012 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Buộc anh T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi các con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng kể từ tháng 12/2018 cho đến khi các con chung lần lượt đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để nuôi sống bản thân; về quan hệ tài sản không xem xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải nộp tiền án phí theo quy định để sung vào công quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Theo xác định của Uỷ ban nhân dân xã V thời điểm anh T làm đơn khởi kiện ly hôn với chị T thì chị T vẫn cư trú tại thôn P, xã V, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Quá trình chuẩn bị xét xử vụ án chị T đều không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng. Qua lấy lời khai và xác minh tại địa phương ngày 08/10/2018 xác định được: Chị T vẫn sinh sống với các con tại thôn P, xã V. Tuy nhiên, vì gia đình theo đạo thiên chúa, theo tục lệ nên chị không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án được, chị đã nhận đầy đủ các văn bản tố tụng mà Tòa án đã gửi cho chị. Điều đó chứng tỏ các văn bản tố tụng của Tòa án đã được tống đạt hợp lệ cho chị T. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt chị Hoàng Thị T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị T là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, vợ nghi ngờ sự chung thủy của chồng dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vã, không tôn trọng nhau. Mặc dù đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thể hàn gắn lại được vì tình cảm vợ chồng không còn. Năm 2012 chị T đưa các con về nhà ngoại sinh sống, hai vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh Trường, chị T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.

[3] Về quan hệ con chung: Các con chung Nguyễn Thị Lệ H, Nguyễn Quỳnh N và Nguyễn Huỳnh Sao L cùng nguyện vọng chung là được sinh sống cùng với chị T. Hiện tại các cháu đều đang học tập ổn định tại địa phương, chị T cũng có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần giao các con chung cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Buộc anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng.

[4] Về tài sản chung: Hai bên thống nhất không có tài sản chung. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ, để sung vào công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 35; Điều 147; khoản 2 Điều 227; các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xét xử vụ án vắng mặt chị Hoàng Thị T.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Hoàng Thị T.

3. Về quan hệ con chung: Giao 03 con chung là Nguyễn Thị Lệ H, sinh ngày 05/10/2005; Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 03/03/2009 và Nguyễn Huỳnh Sao L, sinh ngày 17/11/2012 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi các con chung cùng chị T mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) kể từ tháng 12/2018 cho đến khi các con chung lần lượt đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để nuôi sống bản thân.

Sau ly hôn anh Nguyễn Văn T có quyền qua lại thăm nom con, không ai được ngăn cản.

4. Về quan hệ tài sản: Không xem xét.

5. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ, để sung vào công quỹ Nhà nước. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Quảng Bình theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002253 ngày 05 tháng 7 năm 2018. Anh Nguyễn Văn T phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí.

Án xử sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/11/2018. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ