vanban.org

Bản án 34/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Kim B và anh Dương Thành H.

Về con chung: Giao chị B tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con Dương Thị Hồng N, sinh ngày 14-9-2007, Dương Thị Hồng T, sinh ngày 28-9-2009 và Dương Ngọc Tường V, sinh ngày 28-4-2015. Anh H không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — ": Chị Trần Thị Kim B yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với Anh Dương Thành H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Kim B và anh Dương Thành H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 05-7-2018
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thiều Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Văn Tự;

2. Ông Đoàn Tấn Tiên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Quỳnh Như, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện D.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện D tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Nhã, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện D xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 167/2018/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim B, sinh năm: 1987; Hộ khẩu thường trú: Nhà số 20, tổ 07, ấp L, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Địa chỉ nơi cư trú: Nhà số 55, tổ 08, ấp Đ, xã T, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Dương Thành H, sinh năm: 1982. Địa chỉ nơi cư trú: Nhà số 20, tổ 07, ấp L, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21-3-2018 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Trần Thị Kim B trình bày:

Chị và anh H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2004, nhưng đến năm 2010 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn: Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh H thường xuyên uống rượu về nhà kiếm chuyện và đánh chị nhiều lần, anh H có quan hệ với người phụ nữ khác, chị có khuyên ngăn nhưng anh H không thay đổi. Vợ chồng đã sống ly thân năm 2016 cho đến nay, quá trình ly thân hai bên không gặp mặt và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng thật sự không còn yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: Có 03 con Dương Thị Hồng N, sinh ngày 14-9-2007, Dương Thị Hồng T, sinh ngày 28-9-2009 và Dương Ngọc Tường V, sinh ngày 28-4-2015, hiện ba con đang sống với chị, khi ly hôn có nguyện vọng nuôi các con, không yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con vì chị đủ khả năng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Dương Thanh H: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thủ tục cấp, tống đạt theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh H vắng mặt, do vậy không có lời trình bày của anh H. Anh H vắng mặt xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh có ý kiến như sau:

Về Tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, không vi phạm về tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do xem như anh H từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị B và anh H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2004 có đăng ký kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, anh H thường xuyên uống rượu về nhà kiếm chuyện và đánh chị nhiều lần, có quan hệ với người phụ nữ khác, chị có khuyên ngăn nhiều lần nhưng anh H không thay đổi. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, quá trình ly thân hai bên không gặp mặt và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng thật sự không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh H.

Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B đối với anh H.

Về con chung: Giao chị B tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con Dương Thị Hồng N, sinh ngày 14-9-2007, Dương Thị Hồng T, sinh ngày 28-9-2009 và Dương Ngọc Tường V, sinh ngày 28-4-2015, ghi nhận chị B không yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về Tố tụng: Quá trình giải quyết và tại phiên Toà hôm nay, anh H đã được cấp, tống đạt hợp lệ thông báo, văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không lý do xem như anh H từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt anh H.

Về nội dung: Chị B và anh H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh nên công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, chị B giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh H.

Xét thấy: Tình trạng hôn nhân của chị B và anh H đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh H thường xuyên uống rượu về nhà kiếm chuyện và đánh chị nhiều lần không quan tâm chăm sóc gia đình, mặt khác qua xác minh mẹ ruột là bà Lê Thị Sự cũng thừa nhận anh H còn có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình, bà và chị B đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng anh H không thay đổi. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay; do vậy tình trạng hôn nhân giữa chị B và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B là có căn cứ.

Về con chung: Giao chị B tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con Dương Thị Hồng N, sinh ngày 14-9-2007, Dương Thị Hồng T, sinh ngày 28-9-2009 và Dương Ngọc Tường V, sinh ngày 28-4-2015. Anh H không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B. Về con chung: Giao chị B tiếp tục nuôi các con Dương Thị Hồng N, sinh ngày 14-9-2007, Dương Thị Hồng T, sinh ngày 28-9-2009 và Dương Ngọc Tường V, sinh ngày 28-4-2015. Ghi nhận chị B không yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết. Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy đề nghị này có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: Chị B phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Kim B và anh Dương Thành H.

2. Về con chung: Giao chị B tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con Dương Thị Hồng N, sinh ngày 14-9-2007, Dương Thị Hồng T, sinh ngày 28-9-2009 và Dương Ngọc Tường V, sinh ngày 28-4-2015. Anh H không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Kim B phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010334 ngày 28-3-2018 tại Chi cục thi hành án dân sự Huyện D, tỉnh Tây Ninh, chị B đã nộp đủ tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ