vanban.org

Bản án 34/2018/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 10/10/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D;

Buộc bà Phạm Thị Vinh H công khai xin lỗi bà Nguyễn Thị D tại Văn phòng khóm Vĩnh Chánh, phường Châu phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "bồi thường danh dự nhân phẩm bị xâm phạm"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D;
  • Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 34/2018/DS-ST
Ngày: 10 / 10 / 2018
V/v yêu cầu công khai xin lỗi
và bồi thường thiệt hại do
danh dự, nhân phẩm bị xâm
phạm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Thanh;

2. Ông Nguyễn Trung Hiếu.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Phương, Thư ký Toà án nhân dân thành

phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu

Đốc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 221/2017/TLST-DS ngày

18 tháng 12 năm 2017 về “Tranh chấp dân sự, yêu cầu công khai xin lỗi và bồi

thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ

án ra xét xử số 65/2018/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2018 và Thông báo

mở lại phiên tòa số 13/TB-MLPT ngày 27/9/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1965, địa chỉ: số nhà 153, tổ

21, khóm C, phường A, thành phố D, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị Vinh H, sinh năm 1985, địa chỉ: tổ 37, khóm P,

phường S, thành phố D, tỉnh An Giang.

Bà D có mặt, bà H đã được triệu tập hợp lệ 2 lần tham gia phiên tòa nhưng

vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07 tháng 11 năm 2017, các lời khai trong quá

trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:

Năm 2015, bà Phạm Thị Vinh H kết hôn với con trai của bà (Nguyễn Văn B), có tổ chức lễ cưới, nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi cưới, Bé và H sống chung với bà tại khóm Vĩnh Chánh, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Năm 2017, do sống không hạnh phúc nên Bé đã ly hôn với H và được Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc giải quyết bằng bản án số 19/2017/HNGĐ-ST ngày 11/4/2017. Sau khi ly hôn, H về cha mẹ ruột sinh sống tại phường Núi Sam. Việc vợ chồng Bé, H kết hôn hay ly hôn bà không có can thiệp, xúi giục hoặc tác động gì. Thế nhưng, H đã tỏ ra oán hận tìm nhiều cách để gây mâu thuẫn đến Bé và in ấn phát tán nhiều đơn với nội dung bêu xấu bà. H đã dán “Đơn thưa ngày 09/10/2017 và Bổ sung thêm” trong đó ghi phía dưới họ tên và số điện thoại của Phạm Thị Vinh H trước cửa nhà bà, đồng thời rãi 2 tờ giấy trên khắp khu vực chợ Trường Đua thuộc khóm Vĩnh Chánh, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Sau khi phát hiện 2 tờ giấy trên, bà đem trình báo ban khóm Vĩnh Chánh yêu cầu giải quyết, sau đó ban khóm gửi hồ sơ về Công an phường Châu Phú A giải quyết. Tại Công an phường Châu Phú A, H thừa nhận có rãi “Đơn thưa ngày 09/10/2017 và Bổ sung thêm” nhưng chỉ làm cam kết không xúc phạm bà nữa, nhưng không xin lỗi bà. Sự việc H rải các đơn có nội dung bêu xấu bà làm bà đau khổ ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt làm ăn hàng ngày. Nay bà yêu cầu bà H phải công khai xin lỗi bà tại Tòa án và bồi thường thiệt hại bù đắp tổn thất tinh thần cho bà 10.000.000 đồng.

Chứng cứ bà D cung cấp để chứng minh yêu cầu gồm:

- “Đơn thưa ngày 09/10/2017 và Bổ sung thêm”.

- Bản án số 19/2017/HNGĐ-ST ngày 11/4/2017 của Tòa án nhân dân

thành phố Châu Đốc;

- Các tờ tường trình của: Bà Phan Thị Trang Đ, bà Trần Thị Yến O, bà

Nguyễn Thị V, ông Bùi Văn M, bà Nguyễn Thị Thanh H, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị Trang Đ, ông Nguyễn Văn Ơđề ngày 07/11/2017, kèm theo các tờ tường trình là “đơn thưa ngày 09/10/2017, cuối đơn có số điện thoại Nguyễn Văn B xxxx.xxx.xxx và Phạm Thị Vinh H 01689.747.929”; tờ “Bổ sung thêm, cuối đơn có số điện thoại xxxxx.xxx.xxx” và “Biên nhận ngày 16/3/2017 có tên Nguyễn Văn B và Phạm Thị Vinh H”.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý số 221/TB-

TLVA ngày 18/12/2017; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 203/2018/TB-TA ngày 02/5/2018 và số 267/2018/TB-TA ngày 06/6/2018; thông báo số 32/TB-TA ngày 19/7/2018 về việc cung cấp lời khai và tài liệu, chứng cứ cho bà H nhưng bà H từ chối nhận.

Tòa án thu thập chứng cứ tại Công an phường Châu Phú A. Tại Báo cáo

kết quả giải quyết đơn kiến nghị số 05/BC-CAP ngày 02/11/2017 của Công an phường Châu Phú A và các biên bản làm việc tại Công an phường, H thừa nhận có phô tô đơn và tờ giấy nói xấu bà D rải trên đường tỉnh lộ 55A (gần khu vực nhà bà D đang ở).

Ngày 18/6/2018, bà Nguyễn Thị D có lời khai rút yêu cầu bà H bồi thường

thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng.

Tòa án mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà H vắng

mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, bà D vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu bà H công khai xin lỗi

bà. Yêu cầu bà H xin lỗi bà tại tòa án hoặc nơi cư trú của bà.

- Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

I. Việc tuân theo pháp luật tố tụng

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án,

Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước

thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các

quy định của BLTTDS năm 2015 trong thời hạn chuẩn bị xét xử.

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét

xử sơ thẩm vụ án.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong

quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét

xử nghị án:

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của

họ theo quy định của pháp luật.

Đối với bị đơn bà Phạm Thị Vinh H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần

nhưng không có mặt để tiến hành đối chất cũng như cho lời khai lập biên bản

không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử đúng quy định tại Điều

207, 220 BLTTDS năm 2015.

II. Ý kiến về việc giải quyết vụ án

Năm 2015, con trai bà là Nguyễn Văn B kết hôn với bà Phạm Thị Vinh H,

vợ chồng (Bé - H) về sống chung với gia đình bà D tại địa chỉ tổ 21, khóm Vĩnh

Chánh, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Năm 2017,

ông Bé làm đơn xin ly hôn với bà H và đã được Tòa án nhân dân thành phố

Châu Đốc quyết định cho ly hôn theo Bản án số 19/2017/HNGĐ - ST ngày

11/4/2017. H trở về sống chung với cha mẹ ruột tại tổ 37, khóm P, phường S,

thành phố D, tỉnh An Giang. Sau đó, H tỏ ra oán giận bà D nên H đã phát tán

nhiều đơn với nội dung xâm phạm đến danh dự nhân phẩm, uy tín của ông Bé và

bà D tại khu vực chợ Trường Đua thuộc khóm Vĩnh Chánh, phường Châu Phú

A, thành phố Châu Đốc. Các ông, bà Bùi Văn M, Nguyễn Văn Ơn, Phan Thị

Trang Đ, Trần Thị Yến O, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị Thanh H, Nguyễn Thị

Dọn, Huỳnh Văn Lâm, Nguyễn Thị Trang Đ, nhặt được các đơn trên và cho bà

D biết nên bà D khởi kiện ra Tòa án yêu cầu buộc H phải xin lỗi.

Bị đơn bà Phạm Thị Vinh H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng

không có mặt để tiến hành đối chất cũng như cho lời khai.

Căn cứ biên bản ghi lời khai của Phạm Thị Vinh H hồi 09 giờ 15 phút

ngày 02/11/2017 tại Công an phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc thì bà H thừa nhận: Ngày 25/10/2017, bà H phô tô 100 bộ tờ rơi có nội dung bà D này còn thua loài cầm thú nữa, rồi cùng đứa cháu hàng xóm tên Nhã đi xe ôm phát tờ rơi tại các khu vực đường Trường Đua thuộc khóm 7; chợ Vĩnh Phú; đường lộ 955A Vĩnh Chánh, phường Châu Phú A và H kêu Nhã dán tờ rơi gần nhà và trước cửa nhà bà D.

Xét thấy, hành vi của Phạm Thị Vinh H phát tán những tờ rơi có nội dung

xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà Nguyễn Thị D. Vì vậy, căn cứ các điều 584, 592 Bộ luật Dân sự đề nghị chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà H phải công khai xin lỗi bà D tại nơi cư trú của bà D.

Bà D yêu cầu buộc bà H bồi thường số tiền 10.000.000 đồng tiền tổn thất

danh dự, nhân phẩm, uy tín nhưng hiện nay đã rút yêu cầu. Xét thấy, đương sự rút một phần yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu là tự nguyện nên căn cứ, khoản 2 Điều 244 BLTTDS năm 2015 đề nghị chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút của bà D.

Bà D xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung

cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà D khởi kiện tranh chấp về bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng, yêu cầu công khai xin lỗi và bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm. Bị đơn bà Phạm Thị Vinh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Phạm Thị Vinh H đã được triệu

tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H.

Về nội dung:

* Về yêu cầu công khai xin lỗi:

Bà D cho rằng bà H đã in ấn và phát tán nhiều đơn dán tại nhà bà và khắp

khu vực nơi bà sinh sống với nội dung bêu xấu bà làm cho bà đau khổ ảnh

hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt làm ăn hàng ngày. Tòa án triệu tập bà H nhiều

lần tham gia tố tụng tại tòa nhưng bà H không đến. Qua các chứng cứ bà D cung

cấp và Tòa án thu thập tại Công an phường Châu Phú A, thấy rằng tại Công an

phường Châu Phú A, bà H thừa nhận có phô tô 100 bộ tờ rơi có nội dung bà D

này còn thua loài cầm thú nữa, rồi cùng đứa cháu hàng xóm đi xe ôm phát tờ rơi

tại các khu vực đường Trường Đua thuộc khóm 7; chợ Vĩnh Phú; đường lộ

955A Vĩnh Chánh, phường Châu Phú A và dán tờ rơi gần nhà và trước cửa nhà

bà D.

Xét lời trình bày của bà H tại Công an phường Châu Phú A phù hợp với

lời khai của bà D và những người làm chứng: bà Nguyễn Thị Trang Đ, ông

Huỳnh Văn Lâm, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị Thanh H, ông Bùi Văn M,

bà Nguyễn Thị V, bà Trần Thị Yến O và bà Phan Thị Trang Đ như sau: Ngày

26/10/2017 các ông bà ở chợ trường Đua thuộc khóm Vĩnh Chánh, phường

Châu Phú A thì thấy có nhiều tờ giấy rơi trên đường nên lượm xem thì mới biết

chuyện gia đình bà D. Nội dung 2 tờ giấy nội dung bêu xấu bà D.

Như vậy cho thấy, H rải tờ rơi có nội dung bêu xấu bà D tại nhà bà D và

khu vực khóm Vĩnh Chánh, phường Châu Phú A là xúc phạm đến danh dự, nhân

phẩm, uy tín của bà D. Do đó bà D yêu cầu H xin lỗi bà là phù hợp với khoản 5

Điều 34 BLDS 2015.

Theo hồ sơ do Công an phường Châu Phú A cung cấp, bà H có làm cam

kết không xúc phạm bà D nữa, nhưng không thể hiện có việc xin lỗi bà D. Bà D

cho rằng bà H chưa xin lỗi bà nên bà khởi kiện tại tòa yêu cầu bà H xin lỗi. Tại

phiên tòa, bà D yêu cầu bà H xin lỗi bà, xin lỗi tại tòa hay tại nơi cư trú của bà

thì tùy tòa quyết định. Xét thấy bà H thực hiện rải tờ đơn nội dung bêu xấu bà D

tại khu vục khóm Vĩnh Chánh, phường Châu Phú A. Do đó buộc bà H công khai

xin lỗi bà D tại Văn phòng khóm Vĩnh Chánh, phường Châu Phú A, thành phố

Châu Đốc, tỉnh An Giang.

* Về yêu cầu bồi thường thiệt hại:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà D rút lại yêu cầu bồi thường

thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng đối với bà H. Xét việc bà D rút một phần yêu

cầu là tự nguyện, nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân năm 2015

đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút của bà D.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà D được chấp nhận yêu cầu nên không phải chịu án phí dân sự

sơ

thẩm.

- Bà D rút lại yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với bà H nên hoàn trả cho bà

D số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí

số TU/2015/0015014 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc theo

khoản 3, Điều 18 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016.

- Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết

326.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 34 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 147, 273

khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D;

Buộc bà Phạm Thị Vinh H công khai xin lỗi bà Nguyễn Thị D tại Văn

phòng khóm Vĩnh Chánh, phường Châu phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị D yêu cầu bà Phạm

Thị Kim H bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Phạm Thị Vinh H phải chịu số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án

phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà

Nguyễn Thị D số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số TU/2015/0015014 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.

[3] Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị D có quyền

kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bà Phạm Thị Vinh H được tính là 15 ngày kể

từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ