vanban.org

Bản án 34/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn K, xử cho ông Đặng Văn K ly hôn bà Nguyễn Thị B.

Về án phí: Ông Đặng Văn K phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AB/2014/0002082 ngày 23/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án tro… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn K, xử cho ông Đặng Văn K ly hôn bà Nguyễn Thị B.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2017/HNGĐ-ST
Ngày 13-12-2017
V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng và bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 268/2017/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2017 về việc ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 37/2017/QĐXX-ST ngày 22/11/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2017/QĐST-HNGĐ ngày 07/12/2017 giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Ông Đặng Văn K, sinh năm 1954;

Đăng ký HKTT và hiện trú tại: Thôn O, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1969;

Đăng ký HKTT: Thôn O, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Hiện trú tại: Thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Ngƣời làm chứng: Cụ Vũ Thị M, sinh năm 1934; trú tại: Thôn X, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng.

Ông K có mặt, bà B, cụ Mỵ vắng mặt lần thứ hai không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 23/10/2017, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là ông Đặng Văn K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị B kết hôn với nhau vào ngày 22/9/2014, sau khi kết hôn, bà B sống cùng ông ở thôn O, xã H, huyện T. Ông bà chỉ chung sống hạnh phúc đƣợc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông bà chênh lệch tuổi nhiều nên quan điểm sống bất đồng, tính cách không hợp nhau. Bà B đi làm thuê ở Hà Nội nhƣng không cho ông biết địa chỉ. Thời gian đầu, cứ cuối tuần bà lại về nhà ông sống, nhƣng từ tháng 7/2016 đến nay, mỗi lần đi làm ở Hà Nội về, bà B về hẳn nhà mẹ đẻ ở thôn X, xã H sống, không quan tâm gì đến ông nữa. Ông thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông đƣợc ly hôn bà B.

Về quan hệ con chung, tài sản chung: Ông và bà B không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt các văn bản, tài liệu cho bị đơn là bà Nguyễn Thị B và nhiều lần triệu tập bà B đến Tòa án giải quyết vụ ly hôn nhƣng bà B không đến Tòa án làm việc, cũng không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của ông K.

Tòa án tiến hành làm việc với lãnh đạo UBND xã H, cán bộ Tƣ pháp xã, đại diện Hội phụ nữ xã và trƣởng thôn O, xã H để xác minh tình trạng hôn nhân của ông K và bà B. Tại biên bản xác minh ngày 06/11/2017, đại diện lãnh đạo xã cùng đại diện ban, hội của địa phƣơng đều xác nhận ông K và bà B đã sống ly thân nhau từ tháng 9 năm 2016 đến nay. Nay ông K xin ly hôn bà B, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngƣời làm chứng là cụ Vũ Thị Mỵ (là mẹ bà B) trình bày sau khi cƣới, bà B đi làm trên Hà Nội, cuối tuần lại về nhà ông K nhƣng từ tháng 9/2016, mỗi lần ở Hà Nội về, bà B không về nhà ông K mà về nhà cụ sống, ông K và bà B sống ly thân nhau từ đó đến nay.

Toà án đã tiến hành các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải vụ án theo quy định của pháp luật nhƣng bà B không đến tham gia nên vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc. Tại phiên toà sơ thẩm ngày 07/12/2017, bị đơn là bà Nguyễn Thị B đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng không đến tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà.

Tại phiên toà, ông K vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn bà B, ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác. Ông K cũng trình bày mặc dù ông đã trên 60 tuổi nhƣng ông vẫn tự nguyện nộp tiền án phí sơ thẩm ly hôn, không đề nghị HĐXX miễn số tiền này. Bà B đã đƣợc triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhƣng vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ có quan điểm xác định việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn K là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, ông K có mặt, bà B vắng mặt lần hai không có lý do, HĐXX đã căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn và thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền - nghĩa vụ của mình, bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hƣớng giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi, xử cho ông K ly hôn bà B; về án phí: ông K phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, cña đƣơng sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn là bà Nguyễn Thị B đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Văn K và bà Nguyễn Thị B tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T vào ngày 22/9/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Ông bà chỉ chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, từ tháng 9/2016 đến nay, ông bà đã sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Bà B nhiều lần đƣợc triệu tập đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với ông K nhƣng không đến, cũng không thể hiện quan điểm muốn vợ chồng đoàn tụ. Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ cũng đề nghị HĐXX xử cho ông K đƣợc ly hôn bà B. Hội đồng xét xử thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa ông K và bà B đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của ông K, xử cho ông K đƣợc ly hôn với bà B.

Về con chung và tài sản chung: Các đƣơng sự không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Đặng Văn K là nguyên đơn và là ngƣời cao tuổi (trên 60 tuổi) nên thuộc trƣờng hợp đƣợc miễn án phí. Tuy nhiên, ông K không đề nghị đƣợc miễn án phí mà tự nguyện nộp toàn bộ án phí sơ thẩm ly hôn nên ông K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn K, xử cho ông Đặng Văn K ly hôn bà Nguyễn Thị B.

2. Về án phí: Ông Đặng Văn K phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AB/2014/0002082 ngày 23/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. ơNơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đƣơng sự;

Cỡ chữ