vanban.org

Bản án 34/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp ,quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Diễm T được ly hôn anh Nguyễn Văn P Về con chung: Chị Lê Thị Diễm T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon giua chi T va anh P"
  • Tòa quyết gì? ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp ,quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 28/6/2017
“V/v ly hôn giữa chị T và anh P”
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tranh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Thanh Chúc
2. Ông Trương Văn Mên
Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
Nguyễn Thanh Vũ, Kiểm sát viên - tham gia phiên tòa.
ngày 16/6/2017 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Lê Thị Diễm T, sinh năm 1986 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
2.Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Ngày 28 tháng 6 năm 2017 tại Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số 145/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2017

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/3/2017 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị

Lê Thị Diễm T trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2009 chị T và anh Nguyễn Văn P đăng ký kết hôn tại

UBND xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh, thời gian chung sống do vợ chồng bất đồng

quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vã, tình cảm vợ chồng

không còn, sống chung không còn hạnh phúc nữa, nay chị T yêu cầu ly hôn anh

Nguyễn Văn P.

Về con chung: Nguyễn Lê Thảo T sinh ngày 23/7/2009, chị T yêu cầu được

nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản: vợ chồng thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết;

Về nợ chung: vợ chồng vay quỹ tín dụng V 50.000.000 đồng từ tháng

12/2016 đến nay chưa đóng lãi, chị T yêu cầu chia đôi trả vốn và lãi.

- Theo bản khai ngày 30/3/2017 và lời khai tại Tòa án, bị đơn anh Nguyễn

Văn P trình bày:

Về hôn nhân: theo lời trình bày của chị T là đúng vợ chồng có đăng ký kết

hôn năm 2009.Về mâu thuẫn gia đình vợ chồng có cãi vả, anh P có đánh chị T và chị T bỏ về nhà cha mẹ ruột ở huyện D sống từ năm 2017 cho đến nay. Nay vợ xin ly hôn anh không chấp nhận ly hôn vì anh còn thương vợ con.

Về con chung: Nguyễn Lê Thảo T sinh ngày 23/7/2009, theo ai người đó

nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: anh P đang quản lý gồm có 04 con bò, đất thửa 298, tờ

bản đồ số 3, diện tích 5.920m 2,vợ anh quản lý 200.000.000 đồng, 01 chiếc lắc 13 chỉ vàng 24k, một dây chuyền bạch kim trị giá 24.000.000 đồng, một lắc chuỗi vàng 18 K 05 chỉ. Anh P và chị T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung : nợ quỹ tín dụng V 50.000.000 đồng, anh P không chấp nhận

cùng chị T trả.

Cháu Nguyễn Lê Thảo T sinh ngày 23/7/2009 trình bày: khi cha mẹ ly hôn,

cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ.

Ngày 20/4/2017 Quỹ tín dụng nhân dân xã V có đơn yêu cầu độc lập, yêu

cầu chị Lê Thị Diễm T và anh Nguyễn Văn P phải trả số nợ đã vay của Quỹ tín dụng vào ngày 16/12/2016 là 50.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả xong nợ gốc.

Ngày 04/5/2017 Quỹ tín dụng nhân dân xã V có đơn xin rút đơn yêu cầu

độc lập vì chị Lê Thị Diễm T và anh Nguyễn Văn P đã trả xong nợ gốc và lãi cho Quỹ tín dụng nên Tòa án ra quyết định số 20/2017/QĐST-HNGĐ ngày 05/5/2017 đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập.

Qua các phiên hòa giải chị T và anh P vẫn không thỏa thuận được với nhau

nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai vào ngày 16/6/2017 anh P vắng mặt, nên hoãn phiên Tòa và tiếp tục đưa vụ án ra xét xử lần thứ hai.

Tại phiên tòa hôm nay chị T cương quyết xin ly hôn vì cho rằng vợ chồng

thường xuyên cự cải và không còn hạnh phúc từ năm 2013 cho đến nay, chị không còn tình cảm với anh P. Con chung theo chị thì chị nuôi, không yêu cầu anh P cấp dưỡng. Tài sản thì chị và anh P tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ quỹ tín dụng thì đã trả xong.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ

án, nhận thấy việc thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và quan hệ pháp luật, xác định đầy đủ và đúng tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ theo trình tự, thủ tục, quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện Kiểm Sát nghiên cứu đúng thời hạn; cấp tống đạt các văn bản tố tụng đúng qui định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: tại phiên tòa hôm nay, hội

đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ về nguyên tắc cơ bản khi giải quyết vụ án

theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý

vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn thực hiện đúng theo qui định

của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật

tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Qua nhiều lần hòa giải chị T vẫn cương quyết xin ly

hôn, anh P xin đoàn tụ, xét thấy mâu thuẩn vợ chồng trầm trọng không thể hàn

gắng đoàn tụ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 , 81, 82, 83 của

Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị T được ly hôn

với anh P. Về con chung cháu Nguyễn Lê Thảo T, sinh ngày 23/7/2009 có nguyện

vọng được sống chung với chị T nên giao con chị T tiếp tục nuôi dưỡng, chị T

không yêu cầu cấp dưỡng, tài sản không yêu cầu không xét, nợ chung đã trả xong,

không xem xét. Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem

xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Tòa án nhân dân

huyện Cầu Ngang nhận định:

Về hôn nhân: Xét thấy giữa chị Lê Thị Diễm T và anh Nguyễn Văn P chung

sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C vào ngày

26/6/2009 ( Chứng nhận kết hôn Quyển số 01 số 136) là đúng quy định pháp luật.

Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình xác định hôn nhân của

chị T và anh P là hợp pháp.

Sau khi kết hôn với nhau thì giữa chị T và anh P xảy ra mâu thuẫn do bất

đồng quan điểm sống nên hay cải vả nhau, anh P đánh đập chị T từ đó tình cảm vợ

chồng ngày càng mất đi nên anh chị ly thân nhau, thời gian ly thân anh chị không

quan tâm chăm sóc nhau, anh P không tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắng đoàn tụ

để cùng nhau nuôi dạy con chung, qua nhiều lần hòa giải cũng như tại phiên tòa

chị T vẫn cương quyết xin ly hôn.

Nhận thấy mâu thuẩn giữa chị T và anh P là trầm trọng, đời sống chung

không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được chị T tự nguyện xin ly hôn

là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội

đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

Về con chung: Nguyễn Lê Thảo T sinh ngày 23/7/2009 hiện tại chị T đang

nuôi dưỡng và cháu T có nguyện vọng được sống chung với chị T là phù hợp theo

qui định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận

theo yêu cầu của cháu T.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi

cháu T nên không xét.

Về tài sản : Chị T và anh P không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xét.

Về nợ chung: đã trả xong, không yêu cầu nên không xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp ,quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; khoản 2

Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp ,quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Diễm T được ly hôn anh Nguyễn Văn P

2. Về con chung: Chị Lê Thị Diễm T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn

Lê Thảo T sinh ngày 23/7/2009.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi

cháu T nên không xét.

Anh Nguyễn Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được

quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3.Về tài sản: Chị T và anh P không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không

xét.

4.Về nợ chung: đã trả xong, không yêu cầu nên không xét.

5.Về án phí: Chị Lê Thị Diễm T phải chịu 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn

đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007102 ngày 06/3/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang. Chị Lê Thị Diễm T đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể

từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết để xin tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật

thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật thi hành án dân sự”.

TM.HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM

Thaåm Phaùn- Chuû Toaï Phieân Toaø

Cỡ chữ