vanban.org

Bản án 34/2017/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án

phí và lệ phí Tòa án. Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34 /2017/DS-ST
Ngày: 15 / 11 / 2017
“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thanh Hoàng.

2. Bà Nguyễn Thị Minh Chuyên.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Văn Quới - cán bộ

tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên

tòa: Ông Phạm Hoàng Phong.

Trong ngày 15 tháng 11 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện

Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2016/TLST-DS ngày

15 tháng 6 năm 2016 “về tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số: 60/2017/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2017

giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1936. Địa chỉ: tổ 10, khóm

S, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Trần

Phước T, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp Nhà nước tỉnh An

Giang theo quyết định số 55/QĐ-TGPL ngày 12/9/2016.

- Bị đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1956. Địa chỉ: khóm S, thị trấn N,

huyện T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Cao Thị Thu H, sinh năm 1984. Địa

chỉ: khóm S, thị trấn N, huyện T theo giấy ủy quyền lập ngày 28/11/2014 tại

Văn phòng công chứng Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, An Giang.

Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa. Riêng bà T vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Ý kiến của nguyên đơn: Nguồn gốc đất tranh chấp là của cậu ruột

Định Văn S chết để lại diện tích khoảng 5,8 công (chưa đo đạc cụ thể). Theo ý kiến trình bày của bị đơn tôi không biết cậu tôi cho đất ai. Chỉ biết ông S cho bà K1 01 công, 01 công này thì hiện nay bà T đang sử dụng quản lý từ khoảng năm 1975, chứ không biết có mua bán sang nhượng lại từ bà K1 hay không.

Lúc còn sống khoảng năm 1976 cậu cho tôi diện tích đất này cất nhà ở

và trồng cây trái hưởng huê lợi. Khi cho ông S không nói diện tích bao nhiêu, cũng không ghi để lại giấy tờ gì, chỉ chỉ đất rồi tôi trồng cây xác định ranh. Đó là hiện trạng tôi ở và quản lý từ đó đến nay. Đúng với diện tích thửa tạm 2, diện tích 757 m2 tại mốc điểm số 3,5,25,27,29 (sau đây gọi là thửa tạm 2) và thửa tạm 4, diện tích 1.075 m2 tại mốc điểm số 6,7,10,12,14,15,16 (sau đây gọi là thửa tạm 4) theo bản trích đo địa chính của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Tịnh Biên lập ngày 10/5/2017. Còn phần diện tích tại thửa tạm 1, diện tích 62 m2 tại mốc điểm số 27, 28, 29 (sau đay gọi là thửa tạm 1) và thửa tạm 3, diện tích 333 m2 tại mốc điểm 5, 6, 16, 17, 25 (sau đây gọi là thửa tạm 3) thì có thời gian trồng mì, nhưng sau đó (không nhớ thời gian) cũng đã lâu hơn 10 năm, thì phía bà T quản lý và sử dụng trồng cây ăn trái, trên phần đất này thì có xoài, dừa, tre....của ông S trồng để lại.

Như vậy, nay xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện chỉ tranh chấp

tại thửa tạm 1, diện tích 62 m2 và thửa tạm 3, diện tích 333 m2. Dựa trên diện tích cậu cho là phải vuông, thẳng. Trước giờ không tranh chấp là để cho bên bà T hưởng chờ giải quyết. Phần diện tích theo hiện trạng tại thửa tạm 2 và tạm 4 là của tôi. Còn thửa 151, diện tích 3.838 m2 tại mốc điểm 17, 18, 19, 20, 31, 30, 29, 27, 26, 25 (sau đây gọi là thửa 151) là của bà T, tôi không tranh chấp.

- Bị đơn (bà H đại diện ủy quyền) trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp

với ông Đ là của ông ngoại của ông Đ, bà T (Đinh Văn K, chết khoảng năm 1945), diện tích khoảng 5,8 công. Theo đó, thì phần đất này ông ngoại (ông Kiệt) để lại toàn bộ diện tích cho ông Đinh Văn S (cậu ruột của ông Đ, bà T, chết năm 2000). Lúc còn sống phần đất này ông S chia cho bà Đinh Thị H (chết khoảng 1975) 01 công; Đinh Thị K (chết năm 1991, mẹ ruột của ông Đ, bà T) 01 công, Đinh Thị K1 (chết khoảng năm 1997) 01 công, Đinh Thị G (chết khoảng năm 1978) 01 công, còn lại ông S hưởng để thờ cúng. Lúc còn sống thì ông S, bà G, bà H đều không có con.

Như vậy thì theo phần đất hiện nay bà T được hưởng từ phần đất của

ông S, bà H, bà G và 01 công mua lại từ con của bà K1 (là bà Nguyễn Thị S và bà Nguyễn Thị L) tổng cộng khoảng hơn 4 công (tự tính chưa đo đạc cụ thể). Còn lại ông Đ hưởng 01 công của bà K (mẹ ruột) để lại.

Năm 1995 gia đình kê khai diện tích được cấp chứng nhận quyền sử

dụng số 00834 QSDĐ/bK, ngày 08/3/1995, diện tích là 5.865 m2, loại đất

trồng cây lâu năm, kể cả phần đất của ông Đ. Nên đã bị thu hồi giấy chứng

nhận theo quyết định số 310/QĐ-UBND ngày 21/3/2014.

Tôi vẫn thừa nhận phần đất hiện trạng của ông Đ đang ở không tranh

chấp tại thửa tạm 2, diện tích 757 m2 và thửa tạm 4, diện tích 1.075 m2 theo

bản trích đo địa chính của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Tịnh Biên

lập ngày 10/5/2017. Tuy nhiên, phần diện tích tại thửa tạm 1 = 62 m2 và

thửa tạm 3 = 333 m2 là tôi không đồng ý theo yêu cầu ông Đ, vì hiện trạng

này là của gia đình tôi sử dụng từ lúc ông S để lại đến nay. Tại thửa tạm 1,

tạm 3 và thửa 151 có cây me, xoài, dừa và tầm vong do ông S trồng để lại và

bà T có trồng thêm mãn cầu, cũng hưởng lợi từ đó đến nay.

Do trước nay không chia cắt, nên cũng không phân định được phần

diện tích cụ thể của ông S, bà H, bà G, bà K1. Cũng không có giấy tờ chứng

cứ của ông S cho lại, chỉ nói miệng với nhau. Trước nay, do ai trồng gì trên

đất thì hưởng nấy.

- Ý kiến của người làm chứng (do nguyên đơn cung cấp):

+ ông Nguyễn Thanh H, Nguyễn Văn O, ông Trần Đức T đều khai:

Không có quan hệ gì với ông Đ, bà T. Chỉ là người ở gần xóm và có làm đất

gần đó. Về nguồn gốc đất tranh chấp của ông Đ, bà T thì cho biết do mẹ ruột

(bà K) để lại. Còn diện tích được chia cắt phân chia thế nào thì không biết,

chỉ biết ông Đ cất nhà ở trên đất này và bà T cũng quản lý đất hưởng hoa lợi

cũng hơn 30 năm nay.

- Ý kiến của người làm chứng (do bị đơn cung cấp):

+ Ông Nguyễn Văn C cho biết: Có quan hệ bà con cô cậu với ông Đ,

bà T. Về nguồn gốc đất là của ông cố, bà cố chết để lại cho cậu Đinh Văn

Sính hưởng (là cậu ruột của ông Đ, bà T). Nhưng sau khi ông S mất thì thấy

ông Đ có cất nhà và bà T quản lý đất hơn 30 năm nay, diện tích cho bao

nhiêu thì không biết. Phần ông Đ chỉ được hưởng từ mẹ (bà K). Khi còn

sống thì giữa ông S và ông Đ có mâu thuẫn, từ mặt nhau không nhìn, không

biết rõ nguyên nhân. Nhưng ông cho biết từ lúc còn sống thì thấy bà T là

người nuôi cậu ruột (ông S) và mẹ ruột (Đinh Thị K), cùng với bà Đinh Thị

H (bị mù). Sau khi những người này mất thì thấy bà T là người trực tiếp sử

dụng quản lý và hưởng lợi cây ăn trái trên đất này. Thực tế cũng không biết

đất này để lại cho ai.

+ Bà Nguyễn Thị S cho biết: Có quan hệ chú bác với ông Đ, bà T. Bà

là con của Đinh Thị K1 (em của bà K, chị của ông S). Về nguồn gốc đất

tranh chấp là của ông bà ngoại để lại cho ông S, bà H, bà K, bà K1, bà G. Vì

ông bà ngoại chỉ có 5 người con này. Diện tích cụ thể không biết chỉ biết

khoảng 5 công. Mỗi người con được chia 01 công. Ông Đ được hưởng từ

phần của bà K (mẹ ruột). Còn phần bà K1 (là mẹ ruột của tôi) thì đã bán lại

cho bà T hơn 20 năm nay, không làm giấy tờ. Lý do bán để lấy tiền lo cho mẹ tôi bệnh. Ngoài ra, thì bà T còn được hưởng từ phần của ông S, bà G, bà H. Vì lúc còn sống bà T nuôi dưỡng và ở cùng những người này. Nên bà T được hưởng 4 công, ông Đ được 01 công. Ngoài ra, lúc còn sống thì cũng có nghe ông S và ông Đ mâu thuẫn, không thuận nhau.

- Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:

Về nguồn gốc đất thì thấy rằng của cậu ông Đ cho trước 1975. Sau 1975 ông Đ vẫn sử dụng ổn định đến nay. Tuy nhiên, bà T tự kê khai quyền sử dụng đất nên đã bị thu hồi ngày 21/3/2014. Đối với ý kiến bị đơn xác định cậu cho nhưng không cung cấp được chứng cứ cho rằng đất tranh chấp là của mình, nhưng ông Đ chứng minh được quá trình sử dụng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ, công nhận quyền sử dụng đất tại thửa tạm 1 và tạm 3 cho ông Đ. Hoặc trường hợp thỏa thuận được thì ông Đ chỉ nhận ½ diện tích tranh chấp (bằng 197,5 m2), còn ½ diện tích (bằng 197,5 m2) thì giao cho bà T.

- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân thủ pháp

luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo qui định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo qui định tại các điều 70,71,72,73 điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Thẩm phán còn để vụ án quá thời hạn xét xử.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện ông Đ xác định

nguồn gốc đất của ông Ngô Văn N và bà Đinh Thị K (cha mẹ ruột), đã phân chia cho ông được 2.500 m2, nhưng bà T kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có phần diện tích đất và nhà ông đang ở, nên đã bị thu hồi ngày 21/3/2014. Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, ông xác định tranh chấp 395 m2 tại thửa tạm 1 và tạm 3. Nhận thấy, nguồn gốc đất là của ông K chết để lại cho ông S, bà G, bà H, bà K và bà K1. Qua thu thập lời khai, chứng cứ ông Đ không cung cấp được chứng cứ nào xác định được diện tích đất đang tranh chấp của mình và của ông S cho, còn phía bà T có quá trình quản lý, cùng với khi còn sống ông S, bà H, bà G, đều do bà T chăm sóc nuôi dưỡng nên phần đất của những người này để lại cho bà T là phù hợp. Cùng với lời khai của ông C, bà S cũng biết được sự việc này.

Do đó, yêu cầu của ông Đ không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội

đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, công nhận quyền sử dụng đất cho bà T tại thửa Tạm 1 và tạm 3. Ngoài ra, còn kiến nghị Tòa án thực hiện đúng thời hạn tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ Điều khoản 9 Đều 25, điểm a khoản 1 Điều 35,

điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và khoản 2 Điều 203

Luật đất đai 2013. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân

huyện Tịnh Biên. Và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp quyền sử dụng

đất.

Theo đơn khởi kiện của ông Ngô Văn Đ đề ngày 24/12/2015 tranh

chấp diện tích 2.500 m2. Tuy nhiên, ngày 15/9/2017 ông Đ thay đổi một

phần yêu cầu khởi kiện chỉ tranh chấp với bà T thửa tạm 1, diện tích 62 m2

và thửa tạm 3, diện tích 333 m2. Yêu cầu này không vượt quá phạm vi khởi

kiện, trong phạm vi quyền của nguyên đơn theo quy định tại Điều 71 Bộ luật

tố tụng dân sự.

Về nội dung: Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông, bà để lại cho

các con gồm ông Đinh Văn Sính, Đinh Thị K, Đinh Thị K1, Đinh Thị G,

Đinh Thị H. Có diện tích 5,8 công, tọa lạc khóm S, thị trấn N, huyện T.

Chưa được cấp giấy quyền sử dụng đất. Theo bản trích đo hiện trạng ngày

10/5/2017 của Văn phóng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Tịnh Biên, xác

định thửa tạm 2, diện tích 757 m2 và thửa tạm 4, diện tích 1.075 m2; tạm 1,

diện tích 62 m2 và thửa tạm 3, diện tích 333 m2; thửa 151, diện tích 3.838

m2, tổng diện tích 6.065 m2. Qua đo đạc có diện tích là 6.065 m2, thì sai số

này cũng phù hợp vì trong quá trình sử dụng có thể do khai phá tăng lên.

Đối với yêu cầu của ông Đ được công nhận quyền sử dụng đất tại thửa

tạm 1, diện tích 62 m2 và thửa tạm 3, diện tích 333 m2. Thì thấy rằng theo

lời khai của ông xác định không quản lý, cũng như không xác định được

ông, bà để lại cho ông là bao nhiêu. Chỉ dựa trên cơ sở là diện tích cậu (ông

S) cho là phải vuông, thẳng.

Như vậy, phần diện tích đất mà bà T sử dụng ổn định tại thửa 151 =

3.838 m2 và có cả thửa đang tranh chấp tạm 1 = 62 m2 và thửa tạm 3 = 333

m2 là bà T đã có quá trình quản lý sử dụng đất hơn 30 năm nay, được thể

hiện phần hoa lợi, cây trái đều do bà T hưởng lợi mà ông Đ cũng thừa nhận

điều này. Mặt khác, ông Đ cũng không chứng minh được diện tích ông được

ông S cho là bao nhiêu.

Xét về chứng cứ cũng như lời khai của những người làm chứng ông

O, ông H, ông T cùng khai về nguồn gốc đất tranh chấp của ông Đ, bà T thì

cho biết do mẹ ruột (bà K) để lại, nhưng ông Trương Văn Đ và ông O có biết

được bà T chung sống với ông S. Còn diện tích được chia cắt phân chia thế

nào thì không biết. Ngoài ra, còn có lời khai của bà S, ông C cũng biết Ông

S, bà G, bà H sống cùng với bà T. Thì thấy lời khai của người làm chứng bà

S, ông C, mặc dù có quan hệ thân thích với bà T và ông Đ, nhưng xét thấy

lời khai này là khách quan có căn cứ, cũng như phù hợp với quá trình quản

lý sử dụng đất của bà T. Được thể hiện phần diện tích của ông S, bà G, bà

K1 là 03 công. Hơn nữa, lúc còn sống ông S, bà G, bà H đều không có con,

mà bà T là người có thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng những người này thì

diện tích để lại cho bà T thừa hưởng là phù hợp, cùng với mua lại 01 công từ bà K là 04 công, tương đương hiện trạng đo đạc xác định thửa 151 = 3.838 m2, tạm 1 = 62 m2 và thửa tạm 3 = 333 m2. Tổng diện tích là 4.233 m2. Qua đo đạc thực tế, thì cũng phù hợp.

Theo thẩm định tại vị trí tranh chấp, những cây trồng trên đất đều do

bà T hưởng lợi, quản lý, gồm:

+ Tại thửa tạm 1, diện tích 62 m2 gồm có: 1 cây me loại A (lớn hơn 8

năm tuổi), 01 cây táo loại A (lớn hơn 6 năm tuổi) và một số cây tạp không có giá trị sử dụng;

+ Thửa tạm 3, diện tích 333 m2 gồm có: 02 cây dừa loại A (Lớn hơn

10 năm tuổi, 01 cây xoài loại A (lớn hơn 10 năm tuổi), 01 cây dừa loại B (Từ 3 đến 6 năm tuổi), 01 cây tầm khoảng 7 năm tuổi, 01 bụi tầm vong loại B (khoảng 20 cây).

Và theo công văn trả lời của Phòng tài nguyên môi trường số 170/PĐ-

TNMT ngày 10/11/2017 xác định đất tranh chấp do quá trình sử dụng được trồng màu kết hợp làm nhà ở từ trước năm 1993 nên không vi phạm và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất.

Do đó, đủ cơ sở công nhận phần diện tích sử dụng tại thửa tạm 1, diện

tích 62 m2 và thửa tạm 3, diện tích 333 m2 cho bà T. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn Đ.

Đối với phần diện tích không tranh chấp thửa tạm 2, diện tích 757 m2

và thửa tạm 4, diện tích 1.075 m2, tổng diện tích 1.832 m2 của ông Ngô Văn Đ, và phần diện tích thửa tạm 151 = 3.838 m2 của bà Ngô Thị T. Thì ông Đ, bà T có quyền yêu cầu cơ quan thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định khoản 2 Điều 101 Luật đất đai 2013.

Các khoản chi phí như: Đối với chi phí hợp đồng đo đạc 3.438.000

đồng và xem xét thẩm định, định giá 700.000 đồng, tổng cộng 4.138.000 đồng, do yêu cầu của ông Đ không được chấp nhận, nên ông phải chịu. Tuy nhiên, ông đã tạm ứng nên không phải nộp thêm.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu không được chấp nhận nên

ông Đ phải chịu án phí theo quy định. Tuy nhiên, Ông Đ thuộc người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi, nên được miễn tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bà T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 189, khoản 5 Điều 221 Bộ luật dân sự 2015, khoản 1

Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án

phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn Đ.

Công nhận quyền sử dụng đất cho bà Ngô Thị T thửa tạm 1, diện tích

62 m2 tại mốc điểm số 27, 28, 29 và thửa tạm 3, diện tích 333 m2 tại mốc

điểm 5, 6, 16, 17, 25 theo bản trích đo địa chính do Văn phòng đăng ký

quyền sử dụng đất chi nhánh Tịnh Biên lập ngày 10/5/2017.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn Đ.

(kèm theo Bản trích đo địa chính do Văn phòng đăng ký quyền sử

dụng đất chi nhánh Tịnh Biên lập ngày 10/5/2017).

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đ, được miễn tiền án phí. Ông Đ

được hoàn lại tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn

đồng) theo biên lai thu số 0006612 ngày 15/06/2016 của Chi cục Thi hành án

dân sự huyện Tịnh Biên.

Bà Ngô Thị T không phải chịu án phí.

- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chổ, chi phí định giá tài sản: ông Đ

phải chịu do yêu cầu không được chấp nhận, nhưng được khấu trừ vào tiền

tạm ứng, nên ông Đ không phải nộp thêm.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên

án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án

dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự

nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các

Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện

theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ