- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về bảo vệ động vật - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 244 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo L.V.T phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 339/2020/HS-ST Ngày 22-12-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Thế Vinh;
1. Ông Tạ Quang Hiên;
Các Hội thẩm nhân dân:
2. Ông Nguyễn Minh Tú.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânquận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Bùi Bích Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2020 Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 309/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: L.V.T, giới tính: Nam, Tên gọi khác: Không, sinh năm 1987 tại Bắc Kạn.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn A, xã C, huyện M, Bắc Kạn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông L.V.N, sinh năm 1962; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con bà C.T.V, sinh năm 1963; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ T.T.V (Đã ly hôn năm 2019); Bị cáo hiện đang nuôi 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014).
Tiền án, tiền sự: Không.
Theo danh bản, chỉ bản số 564 do Công an quận Bắc Từ Liêm lập ngày07/9/2020.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 28/8/2020 đến ngày 31/8/2020, huỷ bỏ tạm giữ. Hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
L.V.T là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, sống bằng nghề đi rừng săn bắt động vật, thực vật bán lấy tiền tiêu xài. Sáng ngày 25/8/2020, T đi vào rừng ở thôn Nà Quang, xã C, huyện M, Bắc Kạn, phát hiện 01 ổ rắn hổ mang chúa có 06 con mới nở nên đã bắt mang về nhà nuôi mục đích nếu có khách mua sẽ bán. Đến ngày 27/8/2020, T chụp ảnh 06 con rắn và đưa lên nhóm “Ong rừng miền Bắc” trên mạng facebook để bán thì có tài khoản facebook “Trần Hiền” (không rõ tên tuổi, địa chỉ) vào bình luận, hỏi mua với giá 300.000 đồng/con. T đồng ý bán, hai bên trao đổi số điện thoại và hẹn giao dịch tại ngõ 136, đường Hồ Tùng Mậu, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Trưa ngày 28/8/2020, T cho 06 cá thể rắn vào 01 túi giấy màu đỏ và đi xe khách từ nhà xuống Hà Nội giao cho “Trần Hiền”. Khoảng 16h30’ cùng ngày, khi T đang đứng ở cổng trường liên cấp Newton khu đô thị Goldmark city, số 136 đường Hồ Tùng Mậu, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội chờ “Trần Hiền” đến nhận hàng thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế – Công an quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng
Vật chứng thu giữ của L.V.T:
+ 06 cá thể rắn nghi là rắn hổ mang chúa.
+ 01 túi nilong màu giấy màu đỏ kích thước khoảng (25x40)cm.
+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Vsmart màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của L.V.T tại thôn A, xã C, huyện M, Bắc Kạn, cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu nào liên quan đến vụ án.
Ngày 28/8/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm có Quyết định số 666 trưng cầu Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật – Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giám định tên, loài, tình trạng bảo tồn của 06 cá thể rắn nghi là Rắn hổ mang chúa.
Kết luận giám định động vật số 590/STTNSV ngày 31/8/2020 của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật – Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam kết luận:
1. 06 (sáu) cá thể động vật (còn sống, con non) là loài Rắn hổ mang chúa, có tên khoa học Ophiophagus hannah.
2. Loài Rắn hổ mang chúa Ophiophagus hannah có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Ban hành kèm Nghị định số 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính Phủ) và đồng thời có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính Phủ
Tại cơ quan điều tra, L.V.T khai nhận hành vi như trên và khai qua xem mạng internet nên biết Rắn hổ mang chúa là loài động vật quý hiếm bị nhà nước cấm vận chuyển mua bán nhưng vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, một mình nuôi hai con nhỏ (do T đã ly hôn vợ từ năm 2019) không có tiền nộp học đầu năm học cho 2 con nên vẫn đi bán; Việc T bắt ổ rắn từ rừng về nhà nuôi và đi bán nhà T không ai biết. Sau khi “Trần Hiền” cho T số điện thoại di động 0782403765, T đã xoá bài đăng trên facebook.
Đối với người sử dụng nick facebook “Trần Hiền”, số điện thoại 0782403765. Qua xác minh số điện thoại 0782403765 xác định chủ thuê bao là Lý Văn Hiếu (SN 21/9/1995, địa chỉ: xã Yên Hà, huyện Quang Bình, Hà Giang; số CMND 073443488, cấp ngày 18/3/2013 tại Hà Giang, ngày nhập mạng 12/8/2019). Biên bản làm việc ngày 30/10/2020 tại trụ sở Công an xã Yên Hà: Lý Văn Hiếu thường xuyên ăn ở tại địa phương, quá trình sinh sống tại địa phương chưa có vi phạm gì. Anh Hiếu trình bày không biết số điện thoại này, không biết L.V.T, không biết người có nick facebook “Trần Hiền”, không biết gì về loài rắn hổ mang chúa. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm không có căn cứ để xử lý.
Đối với 06 cá thể Rắn hổ mang chúa còn sống, còn non sức khoẻ yếu, ngày 29/8/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Bắc Từ Liêm đã bàn giao cho cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội để tổ chức cứu hộ theo quy định.
Đối với túi nilong màu giấy màu đỏ kích thước khoảng (25x40)cm và 01 điện thoại di động kiểu dáng Vsmart màu đen, đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản cá nhân của L.V.T là các vật chứng dùng vào việc phạm tội nên cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Bắc Từ Liêm đã chuyển theo hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật
Tại bản cáo trạng số: 312/CT-VKS ngày 16/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội quyết định truy tố L.V.T về tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, theo Điểm a khoản 1 Điều 244 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, bị cáo T khẩn khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại điện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a, khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm h, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo L.V.T mức án từ 15 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.
Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đề nghị Toà án tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại di động bị cáo dùng để liên lạc mua bán rắn hổ mang chúa, tịch thu tiêu hủy túi giấy màu đỏ do không có giá trị sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm,TP. Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, rõ ràng, phù hợp với quy định của pháp luật; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những căn cứ xác định tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/8/2020, L.V.T mang theo 06 cá thể Rắn hổ mang chúa, có tên khoa học Ophiophagus hannah (thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ) còn sống, con non đi bán cho khách tại khu vực trước cổng trường liên cấp Newton (cơ sở 2), khu đô thị Goldmark, ngõ 136, đường Hồ Tùng Mậu, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội để được hưởng lợi nhưng chưa kịp giao thì bắt quả tang và cùng vật chứng.
Hành vi nuôi nhốt và vận chuyển, buôn bán 06 cá thể Rắn hổ mang chúa, có tên khoa học Ophiophagus hannah là loài nằm trong danh mục thuộc Phụ lục I (Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ) theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của chính phủ của L.V.T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo L.V.T hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, việc nuôi, nhốt, buôn bán, vận chuyển các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; gây tác hại đến việc bảo vệ môi trường sinh thái.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L.V.T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo L.V.T khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; 06 cá thể rắn đã được đưa về Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã và trả về với tự nhiên, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; bị cáo lần đầu phạm tội; bị cáo là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, một mình phải nuôi hai con nhỏ ăn học. Đó cũng là nguyên nhân khiến bị cáo phạm tội. Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm h, s Khoản 1và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là thoả đáng, đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa, giáo dục và tuyên truyền đối với cộng đồng, xã hội về việc bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm, giữ gìn môi trường sinh thái, vì môi trường sống trong lành.
Bị cáo L.V.T không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại Khoản 3 Điều 244 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi giấy màu đỏ kích thước khoảng (25x40)cm.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Vsmart màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Về quyền kháng cáo và án phí: Bị cáo được quyền kháng cáo và phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo L.V.T phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
2. Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 244, Điểm h,s Khoản 1,2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo: L.V.T 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo L.V.T cho Uỷ ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Bắc Kạn quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách của án treo các bị cáo L.V.T phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3.1 Về vật chứng vụ án:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 túi giấy màu đỏ kích thước khoảng 25x40 (cm).
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Vsmart màu đen (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm - TP. Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng số 36/21 ngày 18/11/2020 giữa Chi cục Thi hành án quận Bắc Từ Liêm – TP. Hà Nội và Công an quận Bắc Từ Liêm – TP. Hà Nội).
3.2. Về án phí: Bị cáo L.V.T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
3.3 Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Q. BắcTừ Liêm; - VKSND TP. Hà Nội; - TAND TP. Hà Nội; - Công an Q.Bắc Từ Liêm; - Chi cục Thi hành án Q.Bắc Từ Liêm; - Lưu Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Thế Vinh |