vanban.org

Bản án 339/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 15/12/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hồng Lộc.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 31/2020/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân về giảm hình phạt đối với bị cáo Lê Hồng Lộc. Xử phạt: Bị cáo Lê Hồng Lộc 06 (sáu) tháng tù về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. (Nhưng được tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hồng Lộc.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 339/2020/HS - PT
Ngày 15 - 12 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy;

Các thẩm phán:

Bà Hoàng Lan Phương;

Bà Lê Thị Hiệu;

- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa;

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Ngọc Hà – Kiểm sát viên;

Ngày 15 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 287/2020/TLPT- HS ngày 30 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Lê Hồng Lộc do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2020/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân.

- Bị cáo kháng cáo: Lê Hồng Lộc; sinh năm: 1980; Nơi cư trú: Khu 3 thị trấn Thường Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hồng Phong (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tý; có vợ là Đinh Thị Phương Thanh và 03 con; Tiền án: Không; tiền sự: Tháng 11/2019 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 35/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Thường Xuân; Nhân thân: Ngày 09/3/2016 Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân xử phạt 21 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 tháng về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”;Tạm giữ: ngày 06/5/2020; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú: ngày 12/5/2020; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Có 03 bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Cáo trạng và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h ngày 05/5/2020, Lê Thị Minh và Lê Thị Lài đi xe ôm đi lên nhà hàng Tú Lương ở thôn Tiến Sơn 2, thị trấn Thường Xuân, huyện Thường Xuân gặp Phạm Thị Tú, là chủ nhà nhà hàng Tú Lương để lấy tiền nợ. Sau đó Minh và Lài được Phạm Thị Tú mời ở lại ăn cơm tối, sau khi ăn cơm xong mọi người ra bàn ngồi uống nước thì Tú rủ Minh và Lài đánh bạc ăn tiền, được Minh và Lài đồng ý nên Tú gọi điện thoại cho Lê Hồng Lộc, rủ đánh bạc thì Lộc cũng đồng ý và bắt tắc xi đi lên nhà hàng Tú Lương. Khi đến nơi, Lộc thấy có Phạm Thị Tú, anh Nguyễn Văn Lương, sinh năm 1966 (chồng Tú), Lê Thị Minh, Lê Thị Lài và anh Đỗ Hồng Quân, sinh năm1972 ở thị trấn Sao Vàng, huyện Thọ Xuân đang ngồi ở bàn uống nước nên Lộc vào ngồi cùng mọi người. Đến khoảng 21h 30 phút thì Tú, Minh, Lài và Lộc rủ nhau đánh bài bằng hình thức đánh phỏm, Phạm Thị Tú lấy bộ bài Tú lơ khơ có sẵn ở quầy bán hàng, sau đó cùng với Minh, Lài và Lộc đi vào khu vực quầy lễ tân ngồi xuống chiếu đã chải sẵn và bắt đầu đánh phỏm. Thống nhất mức cá cược là 100.000đồng; 200.000đồng; 300.000đồng và 400.000đồng. Theo đó, ai có bài điểm “Ù” sẽ được lấy của mỗi người chơi 400.000đồng. Theo đó, người về nhì mất số tiền 100.000đồng, người về ba mất 200.000đồng, người về bét mất 300.000đồng. Nếu ai không có phỏm thì gọi là “cháy”, sẽ mất số tiền 300.000đồng.

Khi tham gia đánh bạc Phạm Thị Tú có 3.520.000đồng, Lê Hồng Lộc có 4.050.000đồng, Lê Thị Lài có 1.600.000đồng,Lê Thị Minh có 500.000đồng. Đến 00h 10phút ngày 06/5/2020 khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị tổ tuần tra Công an huyện Thường Xuân bắt quả tang.

- Các vật chứng là tiền và công cụ, đồ vật dùng vào mục đích đánh bạc thu giữ

để xử lý gồm:

- 01 Bộ bài Tú lơ khơ 52 cây bài, gồm các cây từ A đến K;

- 01 Điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu VIVOY93 màu đen, số

IMEI1; 863389042337271; số IMEI2: 863389042337363, điện thoại đã qua

sử dụng của Lê Hồng Lộc.

- 01 Điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, số IMEI: 353666050770636,

điện thoại đã qua xử dụng của Lê Thị Lài.

- 01 Điện thoại di động Nokia 105 màu đen, số IMEI: 355808092463816,số

IMEI2: 355808096463812,điện thoại đã qua sử dụng.

- 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A7 màu xanh dương, số

IMEI: 351580103556284, số IMEI2: 351581103556282, điện thoại đã qua

sử dụng.

- 01 Chiếu nhựa kích thước dài 1,95m, rộng 1,57m, chiếu có các hình họa tiết

hoa văn màu xanh, vàng chiếu đã qua sử dụng.

- Tiền thu tại chiếu bạc 8.070.000đồng.

- Tiền thu trên người Lê Thị Lài 1.600.000đồng.

Bản án số 31/2020/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Ðiều 321; điểm s khoản 1Ðiều 51; Ðiều 38; Ðiều 17; Ðiều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Lê Hồng Lộc.

Tuyên bố: Lê Hồng Lộc phạm tội “Ðánh bạc”.

Xử phạt: Lê Hồng Lộc 09 (chín) tháng tù, được trừ đi 6 ngày tạm giữ, thời gian chấp hành án còn lại là 08 (tám) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày.Thời gian chấp hành án kể từ ngày bắt giam thi hành án.

Bản án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo còn lại như sau: Phạm Thị Tú 21 tháng cải tạo không giam giữ; Lê Thị Lài 07 tháng tù cho hưởng án treo; Lê Thị Minh 07 tháng tù.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/9/2020, bị cáo Lê Hồng Lộc kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lộc giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hồng Lộc. Giảm cho bị cáo từ 1 - 3 tháng tù về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS. Sửa bản án theo hướng: không xác định nhân thân đối với hành vi Trộm cắp tài sản XHCN năm 1998 của bị cáo; xác định tiền sự tháng 11/2019 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với bị cáo Lộc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Hồi 00 giờ 10 phút ngày 06/5/2020, tổ công tác Công an huyện Thường Xuân bắt quả tang Phạm Thị Tú, Lê Hồng Lộc, Lê Thị Minh và Lê Thị Lài đang đánh bạc bằng hình thức đánh “phỏm” tại nhà hàng Tú Lương ở thôn Tiến Sơn 2, thị trấn Thường Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 9.670.000đồng.

Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Lê Hồng Lộc phạm tội "Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS là đúng người, đúng tội.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Hồng Lộc thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý với tội danh mà bản án sơ thẩm đã tuyên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung. Khi quyết định hình phạt án sơ thẩm đã xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để xét xử đối với bị cáo.

Về nhân thân: Năm 1998: Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa (bị tạm giữ sau đó trả tự do, không bị xử lý hình sự hoặc hành chính); năm 2016, bị kết án về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ"; tháng 11/2019 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 35/QĐ- UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Thường Xuân. Tuy nhiên, hành vi Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa năm 1998 của bị cáo không bị xử lý hình sự hoặc hành chính nhưng cấp sơ thẩm vẫn đưa vào nhân thân bị cáo là không chính xác. Ngoài ra, tháng 11/2019, bị cáo bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, tháng 02/2020 chấp hành xong, nhưng cấp sơ thẩm xác định là nhân thân là không chính xác mà phải xác định là tiền sự của bị cáo. Do vậy, cần thiết phải sửa bản án theo hướng: không xác định nhân thân đối với hành vi Trộm cắp tài sản XHCN năm 1998 của bị cáo; xác định tiền sự tháng 11/2019 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ TNHS đã được áp dụng: Bị cáo thành khẩn khai báo; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, theo quy định tại điểm d khoản 2 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 BLHS về tha tù trước thời hạn có điều kiện, thì “Được coi là phạm tội lần đầu và có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: ......Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích”. Bị cáo Lộc năm 2016 bị kết án về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" quy định tại khoản 1 Điều 202 BLHS 1999 là loại tội nghiêm trọng do lỗi vô ý; do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 69 BLHS thì không bị coi là có án tích. Như vậy, cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS là thiết sót, gây bất lợi cho bị cáo. Do vậy, cần thiết phải sửa lại bản án theo hướng áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo Lộc. Trong giai đoạn phúc thẩm: bị cáo xuất trình đơn xin giảm án có trình bày điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo, có mẹ già thường xuyên ốm đau, em trai bị thần kinh, bị cáo đang nuôi 3 con nhỏ. Đơn của bị cáo có xác nhận của UBND thị trấn huyện Thường Xuân.

Xét thấy ở cấp phúc thẩm bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS, điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo đặc biệt khó khăn. Vì vậy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội.

. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Lộc được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí HSPT; căn cứ điểm d khoản 2 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của BLTTHS. Điểm d khoản 2 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hồng Lộc.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 31/2020/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân về giảm hình phạt đối với bị cáo Lê Hồng Lộc.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Hồng Lộc 06 (sáu) tháng tù về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. (Nhưng được trừ thời gian tạm giữ trước từ ngày 06/5/2020 đến ngày 12/5/2020).

2. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

3. Về án phí: Bị cáo Lê Hồng Lộc không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ