vanban.org

Bản án 338/2025/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: 1 Buộc bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm trả ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 số tiền tạm tính đến ngày 26/8/2025 là 477.799.212 (Bốn trăm bảy mươi bảy triệu, bảy trăm chín mươi chín nghìn, hai trăm mười hai đồng), trong đó nợ gốc là 239.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP VNTV"
  • Tòa quyết gì? 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 338/2025/DSST
Ngày: 26 - 8 - 2025.
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng.

2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Thành

phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 645/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 21/2025/QĐHPT-ST ngày 31 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V1

Trụ sở: số H đường L, phường Đ, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền nguyên đơn:

Ông Phạm Thế V

Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà A, số I C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo văn bản ủy quyền số 4992/2025/UQ-VPB ngày 25/6/2025 của Ngân

hàng TMCP V1).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969 (Vắng mặt).

Căn cước số: xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: U Cư xá B, phường H (trước đây là Phường A, Quận A), Thành

phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/11/2024, và các lời khai trong quá trình giải

quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Thế V trình bày:

Ngày 27/12/2022, bà Nguyễn Thị H và Ngân hàng Thương mại cổ phần V1

(gọi tắt là Ngân hàng V2) ký hợp đồng tín dụng theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng Đ với hạn mức thẻ tín dụng là 240.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng, lãi suất 33.48%/năm.

Quá trình thực hiện hợp đồng trên, bà Nguyễn Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Mặc dù, Ngân hàng đã tạo điều kiện cho bà Nguyễn Thị H trả nợ nhưng bà H vẫn cố tình trốn tránh, không trả nợ cho ngân hàng. Do vậy, ngày 14/4/2024, Ngân hàng V2 chuyển sang nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn.

Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bà H phải thanh toán ngay cho Ngân hàng V2 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi tạm tính đến ngày 26/8/2025, tổng cộng là 477.799.212 đồng; trong đó nợ gốc 239.850.302 đồng, nợ lãi 237.948.910 đồng.

Bà H tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/8/2025 cho đến khi

thanh toán hết nợ cho Ngân hàng V2 theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng V2.

Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập bà H đến Toà án để tiến hành lấy lời khai, mở phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên tòa nhưng bà H đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản đối.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

Đại diện uỷ quyền của Ngân hàng V2 có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên

yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H vắng mặt không có ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát

biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Từ giai đoạn

thụ lý vụ án đến khi nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng

như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hoà giải và phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, đề nghị Toà án căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp và do

Tòa án thu thập được có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng điện tử. Quá trình sử dụng thẻ và vay vốn bị đơn vi phạm nghĩa vụ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả ngay số tiền còn thiếu để thu hồi nợ là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem

xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Toà án nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quan hệ pháp luật và tư cách tham

gia tố tụng của đương sự: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng V2 yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị H trả số tiền nợ còn thiếu, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Bị đơn bà Nguyễn Thị H cư trú tại phường H (trước đây là Phường A, Quận A), Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2025; Điều 1, Điều 5 và Điều 6 của Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân.

Xét văn bản ủy quyền số 4992/2025/UQ-VPB ngày 25/6/2025 của Ngân hàng TMCP V1 uỷ quyền cho ông Phạm Thế V tham gia tố tụng tại Toà án là phù hợp với quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét, ông Phạm Thế V là đại diện uỷ quyền của nguyên đơn có đơn

xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bà H vẫn vắng mặt không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và phiên tòa, bà H cũng không có ý kiến phản đối, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và

sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng Đ ngày 24/12/2022 giữa Ngân hàng V2 với bà Nguyễn Thị H được giao kết hợp pháp vì có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu bị đơn thanh toán tiền gốc:

Xét yêu cầu bị đơn thanh toán tiền gốc: Căn cứ bản sao kê do Ngân hàng

cung cấp ngày 26/8/2025 cho thấy bà H đã giao dịch bằng thẻ tín dụng từ ngày 27/12/2022 đến ngày 11/01/2024. Ngày 13/04/2024, Ngân hàng V2 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với bà H do bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Điều 8 Phần Đ – Bản điều kiện giao dịch chung về cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Như vậy, tính đến ngày 26/8/2025, bà H không thanh toán số tiền nợ gốc là 239.850.302 đồng cho Ngân hàng V2 là vi phạm thoả thuận tại hợp đồng mà các bên đã ký kết. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bà H phải thanh toán số tiền nợ gốc cho Ngân hàng V2.

Xét yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi:

Căn cứ Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành

và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng Đ ngày 24/12/2022 và Điều 6 Phần Đ – Bản điều kiện giao dịch chung về cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quy định áp dụng tính lãi trong hạn và quá hạn khi vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với loại thẻ tín dụng mà bà H đang sử được áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn. Nguyên đơn yêu cầu bà H phải trả tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn kể từ ngày 13/4/2024 đến ngày 26/8/2025 là 237.948.910 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự và Điều 91, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, lãi suất sẽ được tiếp tục tính kể từ ngày 27/8/2025 cho đến khi bà

H thanh toán xong nợ, theo mức lãi suất quy định trong Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng Đ LN2212267942808/180-P-6297608 ngày 24/12/2022 giữa Ngân hàng V2 và bà Nguyễn Thị H.

Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được

chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39,

khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự

năm 2025;

Căn cứ Điều 1, Điều 5 và Điều 6 của Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân.

Căn cứ Điều 357, khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 98 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1.1 Buộc bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm trả ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 số tiền tạm tính đến ngày 26/8/2025 là 477.799.212 (Bốn trăm bảy mươi bảy triệu, bảy trăm chín mươi chín nghìn, hai trăm mười hai đồng), trong đó nợ gốc là 239.850.302 ( Hai trăm ba mươi chín triệu, tám trăm năm mươi nghìn, ba trăm linh hai đồng), nợ lãi là 237.948.910 (Hai trăm ba mươi bảy triệu, chín trăm bốn mươi tám nghìn, chín trăm mười đồng).

1.2 Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 27/8/2025 trên số tiền nợ còn lại cho đến khi bà H thanh toán xong khoản nợ, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng Đ ngày 24/12/2022 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 với bà Nguyễn Thị H.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm là 23.111.968 (Hai mươi ba triệu, một trăm

mười một nghìn, chín trăm sáu mươi tám đồng), bà Nguyễn Thị H phải chịu.

Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 8.469.538 (Tám triệu, bốn trăm sáu mươi chín nghìn, năm trăm ba mươi tám) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0075057 ngày 03/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân sự, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo trong thời hạn 15

ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ