vanban.org

Bản án 338/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 12/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 338/2022/HS-ST
Ngày: 12-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thúy Hảo

Ông Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 320/2022/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 377/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Anh D, sinh năm 1965 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; HKTT: 51/16 đường L, phường H, TP Vũng Tàu, tỉnh Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: 171/48 đường N, phường T, TP Vũng Tàu, tỉnh Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Nguyễn Văn Th (đã chết); Mẹ: Vũ Thị Kim T (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Từ năm 2002 đến 2007, bị đưa đi cai nghiện bắt buộc, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về các hành vi: sử dụng trái phép chất ma túy, trồng cây cần sa tại nhà.

- Năm 2008, bị Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 340/2018/HSST ngày 16/12/2008. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/11/2011, đã đóng án phí hình sự sơ thẩm ngày 25/9/2009.

Bị cáo bị bắt ngày 02/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 02/9/2022 tại trước nhà số 06 đường T, phường M, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an Phường M, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phối hợp với Đồn Biên phòng Bến Đá kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Anh D đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine), đồng thời thu giữ vật chứng liên quan trong vụ án.

Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Công an Phường M, TP Vũng Tàu đã chuyển hồ sơ, đối tượng cùng vật chứng thu giữ đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Vũng Tàu để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Nguyễn Anh D khai nhận: D sử dụng ma túy từ năm 2002 đến nay, 01 tuần hoặc 10 ngày sử dụng một lần. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 17 giờ ngày 02/9/2022, D đi bộ từ nhà ra Công viên B, Phường M, TP Vũng Tàu gặp một thanh niên tên B (không rõ lai lịch) mua 02 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng để sử dụng. D cất vào túi quần trái rồi đi bộ về đến số 06 đường T, phường M, TP Vũng Tàu thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang. Đây là lần thứ 2 D mua ma túy của Ba, lần trước mua 01 gói 300.000 đồng. Những lần trước đây D thường sử dụng ma túy cùng bạn ngoài xã hội, được bạn cho, không nhớ bạn nào, ở đâu.

Lời khai của Nguyễn Anh D phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Nguyễn Hoàng Duy Kha, phù hợp với chứng cứ thu thập được.

Tại Bản kết luận giám định số 372/KL-KTHS-MT ngày 09 tháng 9 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, kết luận: “Mẫu chất kết tinh không màu-trong suốt chứa trong 01 (một) gói nylon hàn kín, Mẫu gửi đến giám định có khối lượng 0,2458 gam, là ma túy, loại Methamphetamine”.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan chức năng tiến hành thu giữ vật chứng là 02 gói nylon hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh không màu-trong suốt, qua giám định là Methamphetamine, có khối lượng 0,2458 gam (phong bì niêm phong số 372 ngày 09/9/2022) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Vật chứng trên được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Vũng Tàu chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 330/CT-VKS ngày 21/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Vũng Tàu giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật trong vụ án.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 02/9/2022 tại trước nhà số 06 đường T, phường M, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an Phường M, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phối hợp với Đồn Biên phòng Bến Đá kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Anh D đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,2458 gam Methamphetamine. D tàng trữ số ma túy này để sử dụng cho bản thân.

Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có nhận thức đầy đủ, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu. Từ năm 2002 đến 2007, bị đưa đi cai nghiện bắt buộc, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về các hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, “trồng cây cần sa tại nhà”; năm 2008, bị Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, nhưng không lấy đó làm bài học tu sửa bản thân mà nay lại phạm tội. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có .

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không có khả năng thi hành án phạt bổ sung là hình phạt tiền. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Số ma túy còn lại sau giám định (chứa trong phong bì niêm phong số 372 ngày 09/9/2022) là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông tên B là người bán ma túy cho D, không rõ nhân thân, lai lịch, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Vũng Tàu tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên;

QUY T ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh D, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ điểm c, Khoản 1, Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D: 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 9 năm 2022.

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định (chứa trong phong bì niêm phong số 372 ngày 09/9/2022) của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 54/BB.THA ngày 21/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.

4. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Anh D phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ