- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quý Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 338/2022/HS-ST Ngày: 07-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Lợi
Bà Nguyễn Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Võ Văn Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 297/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2022 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; Điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 371/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Bùi Quý Q, sinh năm 1989 tại tỉnh X; Địa chỉ thường trú và cư trú: Số A Đường B, khu phố C, phường D, thành phố E, Thành phố F; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Qtịch: Việt Nam; Con ông Bùi Quý B, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968; Có vợ (đã ly hôn năm 2019) và 01 con sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 26 tháng 02 năm 2022. (Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 23 giờ 45 phút ngày 26/02/2022, Đội cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thành phố Thủ Đức và Công an phường Bình Thọ, thành phố Thủ Đức tiến hành kiểm tra hành chính quán Royal Pub tại số A Đặng Văn B, phường C, thành phố D phát hiện tại bàn để máy tính dùng để chỉnh đèn (ánh sáng) trong quán, có 01 túi xách màu đen, bên ngoài có in chữ Budweiser, trong túi có 01 gói nylon chứa 02 viên nén màu hồng, 01 thẻ xe, 02 USB. Bùi Quý Q tự nhận túi xách và những đồ vật trong túi là của mình, nên Tổ công tác đã thu giữ và đưa Q cùng những người có liên quan về trụ sở Công an phường Bình Thọ làm việc. Quá trình điều tra, Bùi Quý Q khai nhận số ma túy trên là do Q nhặt được tại quán nên giữ lại để sử dụng cho bản thân. Kết luận giám định số 1374/KLGĐ-H ngày 07/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 02 viên nén màu hồng trong 01 gói nylon được ký hiệu mẫu m cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,8016 gam, loại MDMA. Vật chứng vụ án: 01 gói niêm phong ghi vụ số 1374 (269/22) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Mạnh C bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định là 0,4054 gam MDMA; 01 túi màu đen có in chữ Budweiser; 01 thẻ xe màu xanh; 01 thiết bị lưu trữ (USB) màu đen có in chữ SanDisk; 01 thiết bị lưu trữ (USB) màu trắng có in chữ Toshiba; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số sim: 0799071189 thu giữ của Bùi Quý Q. Bản cáo trạng số 286/CT-VKSTPTĐ ngày 09/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Bùi Quý Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Bùi Quý Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự xử phạt Bùi Quý Q mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Quý Q khai nhận vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 26/02/2022, tại quán Royal Pub, địa chỉ số A Đặng Văn B, khu phố C, phường D, thành phố E, Thành phố F, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,8016 gam ma túy, loại MDMA để sử dụng cho bản thân. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích muốn thỏa mãn động cơ cá nhân nên vẫn cố tình phạm tội với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Quý Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, khối lượng bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,8016 gam, loại MDMA.
Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Bùi Quý Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội, vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh, có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo, cai nghiện ma túy cho bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có công với cách mạng, là lao động chính quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về xử lý vật chứng: 01 gói niêm phong ghi vụ số 1374 (269/22) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Mạnh C bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định; 01 túi màu đen có in chữ Budweiser; 01 thẻ xe màu xanh; 01 thiết bị lưu trữ (USB) màu đen có in chữ SanDisk; 01 thiết bị lưu trữ (USB) màu trắng có in chữ Toshiba, là tang vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số sim: 0799071189 xét thấy không liên quan đến vụ án cần trả lại cho Bùi Quý Q. [8] Về các vấn đề khác: Đối với nguồn gốc số ma túy ban đầu Bùi Quý Q đã khai nhận là do Q mua của anh Vũ Trần Ngọc S (là nhân viên chỉnh nhạc của quán). Trong quá trình điều tra, Vũ Trần Ngọc S không thừa nhận đã bán ma túy cho Q. Q xác định số ma túy trên là do Q nhặt được tại quán trong lúc dọn vệ sinh nên giữ lại để sử dụng, việc Q khai mua ma túy của S là do trước đó Q có mâu thuẫn với anh S khi làm việc tại quán nên khai như trên để trả thù anh S. Vì vậy cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ xử lý Vũ Trần Ngọc S là có cơ sở. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Qhội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quý Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự Xử phạt: Bùi Quý Q 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 02 năm 2022. 2. Áp dụng Điều 106 Bộ Luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số 1374 (269/22) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Mạnh C bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định; 01 túi màu đen có in chữ Budweiser; 01 thẻ xe màu xanh ID: LVT0358, 01 thiết bị lưu trữ (USB) màu đen có in chữ SanDisk; 01 thiết bị lưu trữ (USB) màu trắng có in chữ Toshiba; Trả lại cho Bùi Quý Q 01 điện thoại di động hiệu Oppo số sim: 0799071189. (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 145/QĐ-VKS ngày 25/7/2022, Phiếu nhập kho số NK22/077C ngày 05/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức) 3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Bùi Quý Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND thành phố Thủ Đức; - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức; - Trại giam và bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thái Bình |