- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Thảo - Chen chih cheng"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Bà Lê Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 338/2022/HNGĐ-ST Ngày: 23 - 3 - 2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Thanh
Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thoa – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Phạm Phương Hạnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 93/2021/TLST-HNGĐ ngày 02/4/2021 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 702/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04/3/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1994 (có đơn yêu cầu vắng mặt)
Địa chỉ: 75/46 Nguyễn Tư Giản, Phường 12, quận G, T
Bị đơn: Ông Chen, Chih - C, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan).
Địa chỉ: Lầu 2, số 12 Ngách 1, Ngõ 307 đường Đại An, Xóm 15, phường Thụ Hưng, khu Thụ Lâm, Thành phố Tân Bắc, Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Bà và ông Chen, Chih - C tự nguyện kết hôn vào năm 2015 theo giấy chứng nhận kết hôn số 558, quyển số 3 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội cấp vào ngày 26/10/2015.
Sau khi kết hôn bà và ông Chen, Chih - C sang Đài Loan sinh sống, trong qúa trình sinh sống hai bên thường xuyên xảy ra cãi vã mâu thuẫn do bất đồng văn hóa, ngôn ngữ. Ông Chen, Chih – C có tính gia trưởng không cho bà ra ngoài kiếm việc làm mà bắt bà phải ở nhà dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến năm 2019 bà trở về Việt Nam, ông Chen, Chih – C chủ động cắt liên lạc với bà, bà đã nhiều lần chủ động liên lạc với ông Chen, Chih – C nhưng ông Chen, Chih – C không trả lời bà. Bà không quay trở lại Đài Loan, ông Chen, Chih – C không về Việt Nam thăm bà. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Hiện giữa bà và ông Chen, Chih – C không còn liên lạc và cũng không quan tâm đến đời sống của nhau. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Chen, Chih - C để có điều kiện ổn định cuộc sống. Về con chung: Bà và ông Chen, Chih – C có hai con chung tên Trần Minh Quân (Chen Guan Hung), sinh ngày 01/01/2017 và Trần Quan Kiệt, sinh ngày 26/8/2018, hiện nay hai trẻ đang ở chung với bà tại Việt Nam. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Bà không yêu cầu ông Chen, Chih – C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Tòa án không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ được vì ông Chen,Chih – C đang cư trú tại Đài Loan. Tại phiên tòa sơ thẩm, Bà Lê Thị T và ông Chen, Chih – C đều vắng mặt. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị T, cho bà Lê Thị T được ly hôn với ông Chen, Chih – C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị T đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh có đơn xin ly hôn với ông Chen, Chih – C hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 37, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà Lê Thị T tham gia phiên tòa lần thứ nhất vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 24/02/2022, lần hai vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 23/3/2022 nhưng bà Lê Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Đối với ông Chen, Chih – C, Tòa án đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 424/TTTPDS-TA30 ngày 27/5/2021 cho ông Chen, Chih – C theo theo quy định của pháp luật. Theo Công văn số 1605/CH-BTP ngày 30/6/2021 của Bộ Tư pháp thì Bộ Tư pháp đã chuyển hồ sơ ủy thác nêu trên cho Bộ Tư pháp Lãnh thổ Đài Loan. Ngày 04/11/2021 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được Công văn số 3193/BTP-PLQT về việc ủy thác thành công với kết quả trả lời : Gửi hồ sơ ủy thác tại đồn công an.
Toà án đã mở phiên tòa xét xử vụ án vào ngày 24/02/2022 nhưng ông Chen, Chih – C vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay ông Chen, Chih – C tiếp tục vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về yêu cầu của nguyên đơn:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn 558, quyển số 3 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội cấp vào ngày 26/10/2015 thì quan hệ hôn nhân của bà Lê Thị T và ông Chen, Chih – C là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, hai bên sang Đài Loan sinh sống, trong qúa trình sinh sống hai bên thường xuyên xảy ra cãi vã mâu thuẫn do bất đồng văn hóa, ngôn ngữ. Ông Chen, Chih – C có tính gia trưởng không cho bà Lê Thị T ra ngoài kiếm việc làm mà bắt bà T phải ở nhà dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến năm 2019 bà T trở về Việt Nam, ông Chen, Chih – C chủ động cắt liên lạc với bà T, bà T đã nhiều lần chủ động liên lạc với ông Chen, Chih – C nhưng ông Chen, Chih – C không trả lời. Về phía ông Chen, Chih – C, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp cho ông Chen, Chih – C theo quy định pháp luật nhưng ông Chen, Chih – C không có ý kiến phản hồi, cũng không có mặt tại phiên tòa. Điều này chứng tỏ ông Chen, Chih – C không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Về phía bà Lê Thị T xác định không còn tình cảm với ông Chen, Chih – C nên dứt khoát xin ly hôn.
Xét thấy mục đích hôn nhân chỉ có thể đạt được khi vợ chồng thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau. Đây cũng là tình cảm và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau và được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nay tình cảm giữa bà Lê Thị T và ông Chen, Chih – C không còn, cũng không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó bà Lê Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với ông Chen, Chih – C là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Bà T và ông Chen, Chih – C có hai con chung tên Trần Minh Quân (Chen Guan Hung), sinh ngày 01/01/2017 và Trần Quan Kiệt, sinh ngày 26/8/2018, hiện nay hai trẻ đang ở chung với bà tại Việt Nam. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Bà không yêu cầu ông Chen, Chih – C cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ năm 2019 đến nay cả hai con chung đều đang sống tại Việt Nam cùng với mẹ là bà Lê Thị T, cuộc sống sinh hoạt đã ổn định nên yêu cầu của bà T là phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của trẻ, phù hợp với quy định pháp luật vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị T khai không có nên không xét. [4] Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Lê Thị T phải chịu theo quy định của pháp luật. [5] Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị T và ông Chen, Chih – C có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 38; Điều 40; Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 ; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết 326/2016.UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ luật Thi hành án dân sự 2008 đã sửa đổi, bổ sung năm 2014. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Chen, Chih – C. 2. Về con chung: Giao hai con chung tên Trần Minh Quân (Chen Guan Hung), sinh ngày 01/01/2017 và Trần Quan Kiệt, sinh ngày 26/8/2018, cho mẹ là bà Lê Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị T không yêu cầu ông Chen, Chih – C cấp dưỡng nuôi con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. 3. Về tài sản chung: Không có. 4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Bà Lê Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Lê Thị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2019/0093858 ngày 30 tháng 3 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị T được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông Chen, Chih – C có quyền kháng cáo trong hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TPHCM; - Cục THADS TP.HCM; - UBND Thành phố Hà Nội; - Các đương sự; - Lưu: Hs, Vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Phương |