- Tranh chấp gì? án hình sự — "làm giả - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 338/2021/HS-ST Ngày: 02 – 11 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Thiện;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Cảnh Khang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 356/2021/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 337/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Ngô Văn T., sinh năm 1993 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: Ấp X, xã A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nơi tạm trú: khu phố Đ, phường T, thành phố A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn M., sinh năm 1957 và bà Lê Thị X., sinh năm 1959; bị cáo có vợ tên Phạm Thị N., sinh năm 1993 và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/5/2021 đến nay, có mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Minh R., vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Văn T. là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, do chưa tốt nghiệp phổ thông nhưng lại muốn dễ dàng xin việc làm nên bị cáo Tới đã nảy sinh ý định làm giả bằng tốt nghiệp trung học phổ thông. Thực hiện ý định trên, vào khoảng tháng 4/2020, bị cáo tìm kiếm thông tin qua mạng và liên lạc với người tên Tuấn (không rõ nhân thân, địa chỉ) rồi cung cấp thông tin của mình để đặt làm giả 01 Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông với giá 3.000.000 đồng. Khoảng 06 ngày sau khi đặt hàng, người đàn ông tên Tuấn nói trên đến giao cho Tới: 01 Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả mang tên Ngô Văn T., sinh năm 1993, số hiệu A01010780, số vào sổ cấp bằng: 1800859676, do sở Giáo dục đào tạo tỉnh Bình Dương cấp ngày 01/3/2012. Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 22/02/2021, Tới mang Bằng tốt nghiệp giả này đến Ủy ban nhân dân phường Thuận Giao làm thủ tục công chứng sao y để làm hồ sơ xin việc thì bị ông Nguyễn Minh Tâm là cán bộ tư pháp phát hiện và trình báo với cơ quan Công an. Quá trình làm việc, Tới khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 01 Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông mang tên Ngô Văn T., sinh năm 1993, số hiệu A01010780, số vào sổ cấp bằng: 1800859676, do sở Giáo dục đào tạo tỉnh Bình Dương cấp ngày 01/3/2012.
Kết luận giám định số: 178/GĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: 01 Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông mang tên Ngô Văn T., sinh năm 1993, số hiệu A01010780, số vào sổ cấp bằng: 1800859676, do sở Giáo dục đào tạo tỉnh Bình Dương cấp ngày 01/3/2012 là giả.
Cáo trạng số: 350/CT-VKS-TA ngày 27/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Ngô Văn T. về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn T. mức hình phạt từ 06 tháng đến 08 tháng tù.
+ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: 01 Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông mang tên Ngô Văn T., sinh năm 1993, số hiệu A01010780, số vào sổ cấp bằng: 1800859676, do sở Giáo dục đào tạo tỉnh Bình Dương cấp ngày 01/3/2012 là tài liệu giả, đề nghị tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- Bị cáo Ngô Văn T. khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Bản kết luận điều tra và Cáo trạng, thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng tháng 4/2020, Ngô Văn T. có hành vi cung cấp thông tin của mình để đặt làm giả 01 Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông với giá 3.000.000 đồng của một người đàn ông tên Tuấn (không rõ nhân thân, lai lịch), đến ngày 22/02/2021, bị cáo Tới mang Bằng tốt nghiệp giả này đến Ủy ban nhân dân phường Thuận Giao làm thủ tục công chứng sao y để làm hồ sơ xin việc thì bị phát hiện.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan tổ chức, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức được việc làm giả con dấu, tài liệu tài liệu của cơ quan tổ chức là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đây là là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo là nghiêm khắc so với tính chất mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử điều chỉnh cho phù hợp.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 01 Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông mang tên Ngô Văn T., sinh năm 1993, số hiệu A01010780, số vào sổ cấp bằng: 1800859676, do Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương cấp ngày 01/3/2012 là tài liệu giả nên cần được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T. phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;
Xử phạt bị cáo Ngô Văn T. 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Lái Thiêu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên theo quy định của Luật thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí:
Bị cáo Ngô Văn T. phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND TP.Thuận An; - Chi cục THADS TP.Thuận An; - Công an TP.Thuận An; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Quang Ngọc Nhân |