vanban.org

Bản án 338/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 17/11/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/11/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thanh S - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 338/2017/HSPT
Ngày: 17-11-2017

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N N TỈNH ĐỒNG THÁP

Với h nh ph n Hội n

phúc h

c

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tô Phú Đông

Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt

Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Trần Huỳnh Bích Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, xét x phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 273/2017/HSPT ngày 02 tháng 10 năm 2017 đối v i bị cáo Bùi Thanh S.

Do có kháng cáo của bị cáo Bùi Thanh S đối v i bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2017/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện TN.

* Bị cáo có kháng cáo:

BÙI THANH S

Sinh năm 1980;

HKTT: Ấp MĐ, xã MT, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

Nghề nghiệp: Làm mư n;

Trình độ học vấn: 10/12;

Con ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1951 và bà Lê Thị Tr, sinh năm 1954; có vợ Ngô Thị Th, sinh năm 1981;

Tiền án, tiền sự: Không;

Hiện bị cáo đang tại ngoại;

Ngoài ra, trong vụ án còn có đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NH N TH

Theo b n cáo trạng của Viện kiểm sát nh n d n huyện TN và b n án h nh s s th m của Toà án nh n d n huyện TN th n i dung vụ án được tóm t t như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 27/4/2017 bị cáo S cùng bạn Lê Văn Nh, ngụ ấp BH, xã BT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp uống khoảng 03 xị rượu tại xã TT A, huyện TH, đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66F9 - 3255 nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định chạy về nhà khi xe lưu thông trên tỉnh lộ ĐT 843 từ hư ng xã PH đi thị trấn TC, huyện TN đến địa phận thuộc ấp K8, xã PĐ, huyện TN do bị cáo thiếu chú ý quan sát nên không nhìn thấy ông Trần Thanh L đang dẫn xe đạp từ lề phải S lề trái hư ng xe bị cáo chạy thì va chạm gây ra tai nạn làm ông L té xuống mặt đường bất tỉnh được mọi người đưa đến bệnh viện Đa khoa TN và chuyển tiếp đến bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp điều trị đến 23 giờ cùng ngày ông L t vong tại bệnh viện.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 66F9 - 3255 (đã qua s dụng), hiện trạng bị hư hỏng nặng trong vụ tai nạn giao thông, không còn hoạt động được, đã trao trả cho Bùi Thanh S.

- 01 xe đạp (đã qua s dụng), hiện trạng bị hư hỏng nặng trong vụ tai nạn giao thông không còn hoạt động được đã trao trả cho đại diện bị hại Trần Phú A.

Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 28/4/2017 của Công an huyện TN thì hiện trường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng không bị che khuất tầm nhìn, không giao nhau v i các đường nhánh, không có biển báo hiệu giao thông, lưu lượng phương tiện qua lại bình thường có đèn đường chiếu sáng ban đêm. Mặt đường rộng 6,70m, mặt đường có rải một l p nhựa khô ráo, bằng phẳng, mặt đường có vạch kẻ đường phân chia phần đường bằng nét đứt quãng. Tất cả số liệu lấy lề đường phải hư ng xã PH đi thị trấn TC làm chuẩn, từ vạch kẻ đường đo vào lề chuẩn là 3,57m, điểm đụng đo vào lề chuẩn là 3,95m. Như vậy bị cáo S điều khiển phưong tiện lấn sang phần đường bên trái 0,38m.

Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về t thi số 300/KL-KTHS, ngày 04/5/2017 đối v i Trần Thanh L, sinh năm 1950 nguyên nhân chết bị đa chấn thương trong đó chấn thương vùng đầu làm nứt xương sọ và dập xuất huyết não là nguyên nhân gây t vong.

Trong quá trình điều tra lời khai bị cáo phù hợp v i lời khai người đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại b n án h nh s s th m s : 18/2017 HSST ngày 17 tháng 8 năm 2017 của Toà án nh n d n huyện TN đ quy t định:

Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh S phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phư ng tiện giao thông đường b ”.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật hình sự.

X phạt bị cáo Bùi Thanh S 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, án s th m còn tuyên xử về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 29 tháng 8 năm 2017, bị cáo Bùi Thanh S có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đ được th m tra tại phiên tòa phúc th m; căn cứ vào k t qu tranh luận tại phiên tòa, trên c sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý ki n của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo,

XÉT TH

Tại phiên tòa phúc th m, bị cáo Bùi Thanh S đ thừa nhận toàn b hành vi phạm t i của m nh như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 27/4/2017 bị cáo S sau khi đã uống rượu v i bạn là Lê Văn Nh điều khiển xe biển kiểm soát 66F9 - 3255 nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định chạy về nhà khi lưu thông đến địa phận thuộc ấp K8, xã PĐ, huyện TN do thiếu quan sát không nhìn thấy ông Trần Thanh L đang dẫn xe đạp từ lề phải S lề trái hư ng xe bị cáo chạy gây tai nạn làm ông L té xuống mặt đường bất tỉnh được mọi người đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện TN và chuyển xuống Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Tháp điều trị và t vong tại Bệnh viện.

Xét thấy, hành vi của bị cáo Bùi Thanh S là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông đường bộ. Đồng thời, đã trực tiếp xâm phạm tính mạng người bị hại, dẫn đến sự mất mát to l n cho gia đình người bị hại. Bị cáo điều khiển xe môtô tham gia giao thông khi không có giấy phép lái xe, điều khiển xe không chú ý quan sát gây ra tai nạn dẫn đến cái chết của ông Trần Thanh L. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và gây cái chết thương tâm cho người bị hại, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó, cần có thời gian cải tạo giáo dục bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.

n sơ thẩm x phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự xem xét dư i khung hình phạt đối v i bị cáo.

Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, bị cáo có cung cấp đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, đại diện hợp pháp của người bị hại cũng tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ những tình tiết này xét thấy cũng cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt. Do đó, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét x không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Bùi Thanh S. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Tỉnh là có một phần cơ sở như phần trên đã nhận định.

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên,

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.

QU ẾT ĐỊNH:

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Thanh S.

S a bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối v i bị cáo Bùi Thanh S.

Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh S phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

p dụng điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự.

X phạt: Bị cáo Bùi Thanh S 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.

Về án phí: Bị cáo Bùi Thanh S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

T TM HỘI ĐỒNG XÉT X PH C TH M

Cỡ chữ