- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lê Tấn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Áp dụng Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ THÀNH PHỐ M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 337/2022/HS-ST Ngày: 07/09/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ - THÀNH PHỐ M
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị T.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn P
2. Bà Phạm Thị Ngọc D
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thúy N – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên tòa: Ông Lê Việt T - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, Thành phố M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 127/2022/HSST ngày 15/8/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 365/2022/QĐXXST-HS ngày 15/08/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 64/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Lê Tấn C; sinh năm 1996; tại tỉnh NT; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn PA 2, xã PV, huyện NP, tỉnh NT; Nơi cư trú: 782/8 PVB, Phường 12, quận GV, Thành phố M; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn H, sinh năm 1970 và bà Lê Thị Minh T, sinh năm 1973; bị cáo có vợ Nguyễn Thị L và 01 con sinh năm 2021; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/05/2022 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 03/05/2022, do cần mua ma túy để sử dụng nên Nguyễn Lê Tấn C một mình từ nhà đi xe ôm đến khu vực nghĩa trang BHH, phường BHH, quận BT, Thành phố M để mua ma túy 01 gói ma túy của một người đàn ông tên T (không rõ lai lịch), với giá 300.000 đồng để sử dụng. Khi mua ma túy xong, C đến bãi đất trống gần nghĩa trang BHH để sử dụng một ít, phần còn lại C bỏ vào túi trong phía trước bên phải áo khoác C đang mặc, rồi đón xe ôm đi về nhà. Đến trưa ngày 04/5/2022, C đi công việc đến khu vực thành phố Đ nên đã lấy áo khoác trên để mặc. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, Tổ tuần tra công an phường HBP đi tuần tra khi đến khu vực dưới gầm cầu vượt HBP thì phát hiện C có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính C. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi phía trước bên phải áo khoác của C mặc có 01 gói nilon bên trong chứa tinh thể không màu. C khai đó là ma túy mua để sử dụng nên đã đưa C về công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 gói nylon bên trong có chứa tinh thể không màu.
Kết luận giám định số 2589/KL- KTHS ngày 11/05/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố M kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,7078g, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Lê Tấn C khai nhận toàn bộ nội dung phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án:
- Gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định, có khối lượng 0,6033g;
- 01 áo khoác màu đen;
Tại Bản Cáo trạng số 141/CT-VKSTPTĐ ngày 14/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Nguyễn Lê Tấn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2]. Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo C về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Xử phạt: Bị cáo C từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/05/2022.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy đối với lượng ma túy còn lại và 01 chiếc khoác màu đen.
Bị cáo Nguyễn Lê Tấn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng:
Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội, kết luận giám định... và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng trưa ngày 04/05/2022, tại khu vực gầm cầu vượt HBP thuộc Khu phố 3, phường HBP, thành phố Đ, Thành phố M phát hiện Nguyễn Lê Tấn C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng khối lượng 0,7078g, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tình tiết định khung hình phạt:
Lượng ma túy tàng trữ có khối lượng khối lượng 0,7078g, loại Methamphetamine, thuộc trường hợp:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau sau đây thì phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
……
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine….. có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ
luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo:
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:
Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, làm tiền đề phát sinh nhiều tội phạm, tệ nạn xấu trong xã hội. Do đó cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Không có.
. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xét:
- Gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định, có khối lượng 0,6033g loại Methamphetamine, đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy.
- 01 áo khoác màu đen đây là phương tiện, công cụ phạm tội nên tịch thu và tiêu hủy;
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đối với người tên T (là người bán ma túy cho C), cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Áp dụng Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Tấn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Tấn C 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/05/2022.
3.Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 2015:
Tịch thu và tiêu hủy đối với: Gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định, có khối lượng 0,6033g loại Methamphetamine và 01 áo khoác màu đen.
3. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
Hoàng Thị T
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Công an thành phố Đ; - Tòa án nhân dân TP. M; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ; - Phòng PV06, PC10 - Công an TP. M; - Sở Tư pháp Thành phố M; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị T |