vanban.org

Bản án 337/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Khéo C được ly hôn với anh Nguyễn Huy P. Về con chung: Chị Khéo C tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Duy T, sinh ngày 21/02/2012, hiện nay cháu T đang sống với chị Khéo Chị. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số:337/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22–9–2022
“V/v ly hôn giữa
Chị Khéo C và anh P”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Tám

2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiện Nhân– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng– Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 149/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Khéo C, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Tổ 08, khóm T, thị trấn P, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Huy P, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh An Giang.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Khéo C trình bày:

Chị và anh P tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân năm 2009, đến năm 2011 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống bên gia đình chồng. Một năm sau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do anh P thường xuyên uống rượu, chơi cờ bạc, không lo làm ăn, gây nhiều nợ nần. Chị Khéo C khuyên nhưng anh anh P không sửa đổi, gia đình hai bên hàn gắn nhưng không thành và vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay. Chị không còn tình cảm với anh P nên đề nghị tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Huy P.

Về nuôi con chung: Chị Khéo C và anh P có 01 con chung tên Nguyễn Duy T, sinh ngày 21/02/2012, hiện nay đang sống với chị Khéo C. Chị yêu cầu tiếp tục nuôi cháu T, không yêu cầu anh P cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không.

Về nợ chung: không.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Tòa án tiến hành xác minh được anh Hồ Công Minh là trưởng ấp B, xã P cho biết: Anh Nguyễn Huy P đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh An Giang, anh P đi làm ăn ở đâu không rõ nhưng thỉnh thoảng có về địa phương. Về tình trạng hôn nhân của chị Khéo C và anh P, vợ chồng có mâu thuẫn do anh P cờ bạc gây nợ nần, anh P thường xuyên uống rượu nên vợ chồng thường xuyên cự cãi. Hiện nay chị Khéo Cvà anh P không còn chung sống với nhau.

Ông Nguyễn Văn Nhẹ là cha ruột của anh P xác định: Chị Khéo Cvà anh P mâu thuẫn về tiền bạc và ly thân được 02 năm. Ông Nhẹ có nhận giấy triệu tập của Tòa án thay anh P và thông báo lại cho anh P biết nhưng anh không có ý kiến.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu:

Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Thành phần Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đúng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định phân công thẩm phán giải quyết vụ án. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Huy P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa lần thứ 2, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Chị Khéo Cvà anh P chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009 có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn được một năm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh P không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu, cờ bạc và gây nợ nần. vợ chồng thường xuyên cự cãi. Anh chị không chung sống từ năm 2019 đến nay.

Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cho nhau… Vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau…”. Thế nhưng vợ chồng chị Khéo C và anh P đã không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc cho nhau, anh P không lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2019 cho đến nay, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Khéo C và anh Nguyễn Huy P là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Khéo C yêu cầu tiếp tục nuôi con chung Nguyễn Duy T, sinh ngày 21/02/2012. Xét thấy, cháu T đang sống với chị Khéo Chị, được chị chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, phát triển ổn định. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, cần tiếp tục giao T cho chị Khéo C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của cháu. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Khéo C phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Từ các căn cứ nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Khéo Chị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án, được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Khéo Ckhởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh P nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: anh P với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt khi tòa án xét xử. Bị đơn anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung: Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Chị Khéo C và anh P tiến tới hôn nhân năm 2009 trên cơ sở tự nguyên, tự tìm hiểu và đăng ký kết hôn, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi vợ chồng bắt đầu chung sống thì phát sinh mâu thuẫn do anh P thường xuyên uống rượu không lo cho vợ con và chơi cờ bạc, anh chị thường xuyên cự cãi và vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay. Xét thấy, thời gian ly thân của anh chị kéo dài, vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, chung sống với nhau. Anh P không quan tâm chăm sóc vợ con, không lo làm ăn, lại cờ bạc. Nhiều lần Tòa án triệu tập anh P đến hòa giải nhưng anh không tham dự, cho thấy anh không có thiện chí hàn gắn. Hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Nên yêu cầu ly hôn của chị Khéo C là phù hợp. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận chị Nguyễn Thị Khéo C được ly hôn với anh Nguyễn Huy P

Về con chung: Chị Khéo C và anh P có một con chung tên Nguyễn Duy T, sinh ngày 21/02/2012. Xét thấy từ khi ly thân đến nay cháu T sống chung chị Khéo C, được chị chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, phát triển ổn định. Ngoài ra, các cháu có nguyện vọng được sống với chị Khéo C. Để đảm bảo môi trường phát triển của các con được ổn định, thuận lợi trong việc học tập, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, cần tiếp tục giao cháu T cho chị Khéo Cchăm sóc, nuôi dưỡng.

Chị Khéo C không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con, nên anh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị Khéo C cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Không.

Về nợ chung: Ghi nhận chị Khéo C xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

Về án phí sơ thẩm, căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị Nguyễn Thị Khéo C phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Khéo C được ly hôn với anh Nguyễn Huy P.

2. Về con chung: Chị Khéo C tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Duy T, sinh ngày 21/02/2012, hiện nay cháu T đang sống với chị Khéo Chị. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị Khéo Ccùng các thành viên gia đình không được cản trở anh P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con

3. Về tài sản chung: không

4. Về nợ chung: Ghi nhận chị Khéo Cxác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Khéo C phải chịu 300.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0004500 ngày 05/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Anh P không phải chịu án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ