vanban.org

Bản án 337/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

VKSND TX. Hoài Nhơn;

CC THA dân sự TX. Hoài Nhơn; Các đương sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Kim Y"
  • Tòa quyết gì? VKSND TX. Hoài Nhơn;
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 337/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 25-8-2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Long Nhiên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Á

Bà Trần Thị Thu Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Phường, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2021/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2021 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2021 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 323/2021/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Kim Y, sinh năm 1992

HKTT: Khu phố T 1, phường TQB, thị xã H, tỉnh B.

Tạm trú: Khu phố C, phường HH, thị xã H, tỉnh B.

Bị đơn: Anh Nguyễn Minh V, sinh năm 1990

HKTT: Khu phố T 1, phường TQB, thị xã H, tỉnh B.

(Các đương sự có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Đỗ Thị Kim Y trình bày: Chị và anh Nguyễn Minh V tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Tam Quan Bắc vào ngày 24/8/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh V thường xuyên nghi ngờ, ghen tuông vô cớ và hay đánh đập chị. Chị đã một lần nộp đơn yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn nhưng vì con và vì muốn cho vợ chồng một cơ hội để hàn gắn nên chị đã rút đơn. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng vẫn không được giải quyết. Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa giải quyết cho chị được ly hôn anh V.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Anh K, sinh ngày 25/8/2012 và Nguyễn Phúc N, sinh ngày 24/02/2015. Khi ly hôn, chị yêu cầu được quyền nuôi dưỡng hai con chung và yêu cầu anh Vương cấp dưỡng nuôi hai con theo quy định của pháp luật.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 15 tháng 3 năm 2021 và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Minh V trình bày: Anh và chị Y quen biết nhau và đi đến hôn nhân như chị Y trình bày là đúng. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh là do thời gian gần đây chị Y thường xuyên có những mối quan hệ bạn bè vượt quá giới hạn, nên anh không chấp nhận, tình cảm vợ chồng từ đó có rạng nứt. Tuy nhiên, bản thân anh vẫn còn tình cảm với vợ, do đó anh không đồng ý ly hôn.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung như chị Yến trình bày là đúng, nếu ly hôn, anh đồng ý giao hai con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đỗ Thị Kim Y; Giao hai con chung cho chị Y nuôi dưỡng, buộc anh V cấp dưỡng nuôi hai con theo quy định của pháp luật. Về chia tài sản chung, nợ chung: đương sự trình bày là không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Đỗ Thị Kim Y có đơn khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Minh V có nơi thường trú tại khu phố Tân Thành 1, phường Tam Quan Bắc, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị Y và anh V tuân thủ đúng quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, xét thấy chị Y kiên quyết ly hôn, anh V không đồng ý nhưng cũng không có một biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Qua nhiều lần xác minh cho thấy chị Y và anh V hiện đang sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị Y kiên quyết yêu cầu ly hôn, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị.

Về nuôi con chung: Tại phiên tòa hôm nay, xét nguyện vọng của chị Y, sau khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi hai con chung và yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật, xét thấy hiện nay hai con chung đang ở với chị Y, nên cần đảm bảo sự ổn định về mọi mặt cho các con, Hội đồng xét xử giao hai con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình. Buộc anh V cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 745.000 đồng đối với một cháu kể từ tháng 8 năm 2021 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Y phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và anh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đỗ Thị Kim Y. Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị Kim Y được ly hôn với anh Nguyễn Minh V. Về nuôi con chung: Giao hai cháu Nguyễn Anh K, sinh ngày 25/8/2012 và Nguyễn Phúc N, sinh ngày 24/02/2015 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc anh V cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 745.000 đồng đối với một cháu kể từ tháng 8 năm 2021 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Y đã nộp theo biên lai thu số 0000451 ngày 09 tháng 3 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn. 2. Về án phí dân sự sơ thẩm đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh V phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước. 3. Về quyền kháng cáo: Chị Y, anh V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. 4. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ