vanban.org

Bản án 336/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 11/07/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/07/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Đặng Thị Lệ H.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2025/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai) về phần hình phạt đối với bị cáo Đặng Thị Lệ H. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị Lệ H phạm tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 24…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Đặng Thị Lệ H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 244 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 336/2025/HS-PT
Ngày: 11-7-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Ninh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nhân

Bà Nguyễn Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Chuyên – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (cơ sở 2), xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2025/TLPT-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Đặng Thị Lệ H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai).

Bị cáo có kháng cáo:

ĐẶNG THỊ LỆ H, sinh năm 1978, tại tỉnh B; giới tính: nữ. Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai). Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 04/12; nghề nghiệp: làm nông. Con ông Đặng Văn C (sinh năm 1953, đã chết) và bà Nguyễn Thị G (sinh năm 1950). Bị cáo có 01 (một) người con sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo được tại ngoại để điều tra cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 23/10/2024, Trần Văn C1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại SH Mode, biển kiểm soát: 93G1 – 220.67 đến quán ăn S thuộc ấp T, xã T, huyện B để ăn sáng. Tại đây, C1 gặp Đặng Thị Lệ H. H nói cho C1 biết về việc có một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) bán một con tê tê nặng khoảng 03 kg với giá 3.000.000 đồng. Chủ nói giá đó hoặc thấp hơn chút thì có thể mua được. Tuy nhiên, người phụ nữ bán con tê tê đã đi đâu không rõ nên Chủ không mua được.

Sau đó, H điều khiển xe ô tô hiệu Accent, màu đỏ, biển kiểm soát: 61K – 140.72 về hướng thị trấn T. Khi đi đến ngã ba gần nhà Y thuộc xã T, huyện B (cách quán ăn sáng khoảng 30 mét), thì thấy người phụ nữ bán con tê tê điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đi về hướng H. H hỏi:

“Chị chưa bán hả? Có người ở quán ăn sáng bên kia đường đang muốn mua con tê tê, chị bán với giá 2.500.000 đồng đi rồi về.”

Người phụ nữ đồng ý bán. Lúc này, H gọi cho C1 hỏi con tê tê giá 2.500.000 đồng có mua không. Chủ nhờ H mua và trả tiền giúp, H đồng ý. H mua con tê tê và trả số tiền 2.500.000 đồng, nói người phụ nữ cầm con tê tê qua quán ăn giao cho C1. Sau đó, H qua quán gặp C1 lấy lại số tiền 2.500.000 đồng đã trả thay.

Chủ để con tê tê vào chỗ để chân phía trước xe mô tô biển kiểm soát 93G1 – 220.67 để vận chuyển về nhà tại ấp T, xã T, huyện B. Khi đến cổng chào ấp T, xã T thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang.

Kết luận giám định:

Theo Kết luận giám định mẫu vật số 1836/STTNSV ngày 25/10/2024 của V thuộc V1 xác định:

01 (một) cá thể động vật trong bản ảnh gửi giám định là loài Tê Tê Java, tên khoa học M javanica.

Loài Tê Tê J có tên trong:

- Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019).

Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/09/2021).

Phụ lục I, Công ước CITES, theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý C2.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai) đã tuyên:

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị Lệ H phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 244, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Các Điều 17, 35, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị Lệ H 500.000.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về việc xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 15/3/2025, bị cáo Đặng Thị Lệ H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và kêu oan, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án để điều tra lại

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo chỉ yêu cầu kháng cáo kêu oan và không thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã nhận định, mà cho rằng bị cáo không tham gia vào việc mua bán, chỉ là người cho em gái của bị cáo C1 là Nguyễn Thị Ngọc H1 mượn tiền để mua con tê tê. Việc khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm là do không hiểu biết pháp luật và do bị cáo C1 nhờ bị cáo “đừng khai lung tung”, nên bị cáo mới khai như vậy.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa:Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 18/2025/HS-ST ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Đặng Thị Lệ H được thực hiện trong thời hạn luật định, nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kêu oan, cho rằng mình không thực hiện hành vi phạm tội, không chỉ dẫn người phụ nữ mang tê tê đến bán cho C1, cũng không cho C1 mượn tiền. Bị cáo trình bày: bản thân chỉ tình cờ ăn sáng tại quán chị của bị cáo C1, sau đó em gái Chủ là Nguyễn Thị Ngọc H1 có mượn 2,5 triệu đồng từ bị cáo để mua đồ cho Chủ, chứ bị cáo không liên quan đến việc mua tê tê như bản án sơ thẩm đã nhận định.

Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại các biên bản tự khai do chính bị cáo viết (bút lục 111 đến 117) và các biên bản hỏi cung bị can (bút lục 122–128) thể hiện: sau khi bị cáo H trao đổi với người phụ nữ về việc bán con tê tê, bị cáo H đã gọi cho C1 hỏi con tê tê giá 2.500.000 đồng có mua không, Chủ nhờ H mua và trả tiền giúp, H đồng ý. H mua con tê tê và trả số tiền 2.500.000 đồng, rồi bảo người phụ nữ mang con tê tê qua quán ăn giao cho C1. Sau đó, H qua quán gặp C1 để lấy lại số tiền 2.500.000 đồng H đã trả. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo C1 và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi lời khai, cho rằng bị cáo không tham gia vào việc mua bán con tê tê và khai như trong quá trình điều tra là do bị cáo C1 nói “đừng khai lung tung”, nhưng bị cáo cũng thừa nhận rằng Chủ không bảo bị cáo phải khai như thế nào. Trong quá trình điều tra, bị cáo không bị ép cung, nhục hình. Mặt khác, do không hiểu biết pháp luật nên bị cáo mới khai như vậy. Khi tòa tuyên án, bị cáo mới cho rằng mình bị oan. Tuy nhiên, việc thay đổi lời khai của bị cáo là không có căn cứ, bởi theo lời khai tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo C1 chỉ nói “đừng khai lung tung”, chứ không nhờ bị cáo khai nhận tội thay cho ai.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đều thừa nhận hành vi của mình. Trong phần tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận đã mua động vật giúp cho bị cáo C1 nhưng không biết con tê tê nằm trong Sách đỏ, thuộc loài được Nhà nước bảo vệ. Bị cáo khai hiện nay kinh tế khó khăn, một mình nuôi con, nên cho rằng mức án Viện Kiểm sát đề nghị là cao đối với bị cáo.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Đặng Thị Lệ H phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Bản án đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, không oan sai, và đã áp dụng đúng quy định pháp luật. Do đó, kháng cáo kêu oan của bị cáo không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm đối với bị cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa là có căn cứ một phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Đặng Thị Lệ H.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2025/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai) về phần hình phạt đối với bị cáo Đặng Thị Lệ H.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 35, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị Lệ H phạm tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm".

Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị Lệ H 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đặng Thị Lệ H phải chịu 200.000 đồng.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ