- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương C - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 2 Điều 260, Khoản 1 Điều 341; Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số:335/2022/HS-ST Ngày: 20-12- 2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Thu Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Công
Ông Nguyễn Đăng Khoa
- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 341/2022/TLST- HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 354/2022/HSST-QĐ ngày 06 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Dƣơng C, sinh năm: 1996 tại Kiên Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha là ông Dƣơng H (chết) và mẹ là Thị Kim H, sinh năm 1974.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giam ngày 07 tháng 5 năm 2022 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Mai Văn K, sinh năm 1982; địa chỉ: Xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ, vắng mặt.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Danh Q, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
2. Nguyễn Văn N, sinh năm 1982; địa chỉ: Khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn xin vắng mặt.
3. Thị P, sinh năm 1989; địa chỉ: Ấp R, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang, có đơn xin vắng mặt.
4. Thị Kim H, sinh năm 1974; địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 16 giờ 17 phút ngày 31/3/2021, sau khi uống rƣợu cùng bạn bè tại phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An. Dƣơng C điều khiển xe mô tô biển số 68D1 - 523.19 chở ông Danh Q, sinh năm: 1986; hộ khẩu thƣờng trú: ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang ngồi giữa cùng với ông Mai Văn K, sinh năm: 1982; hộ khẩu thƣờng trú: xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ ngồi phía sau. Dƣơng C điều khiển xe mô tô lƣu thông trên đƣờng Quốc Lộ 13 theo hƣớng từ ngã tƣ Cầu ông Bố về ngã tƣ Bình Hòa thuộc thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Khi xe lƣu thông đến đoạn đƣờng trƣớc căn nhà địa chỉ: số 7/7, khu phố Bình Đức 1, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, C đã điều khiển xe mô tô sang làn đƣờng dành cho xe ô tô và vừa điều khiển xe vừa quay đầu ra phía sau nói chuyện với ông Q và K. Do không chú ý quan sát phía trƣớc nên xe mô tô do C cầm lái đã đâm vào mặt sau góc trái thùng xe ô tô tải biển số 61C - 206.71 của ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1982; hộ khẩu thƣờng trú: khu phố Đ, phƣờng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đang điều khiển phía trƣớc cùng chiều. Hậu quả sau tai nạn, xe mô tô biển số 68D1 - 523.19 do C đang điều khiển ngã xuống đƣờng làm tất cả bị thƣơng và đƣợc ngƣời dân đƣa đi cấp cứu, hai xe mô tô và ô tô hƣ hỏng.
- Theo biên bản khám nghiệm hiện trƣờng tai nạn giao thông thể hiện:
Hiện trƣờng xảy ra tai nạn là đoạn đƣờng đƣợc trải nhựa bằng phẳng, chia thành 02 (hai) chiều xe chạy bởi dải phân cách loại cố định. Chiều xảy ra tai nạn là chiều đi bên phải đƣờng Quốc Lộ 13 (hƣớng từ ngã tƣ Cầu Ông Bố về hƣớng ngã tƣ Bình Hòa) ở chiều đi này có bố trí “biển gộp làn đƣờng theo phƣơng tiện” gồm: Làn đƣờng xe ô tô khách có số chỗ ngồi nhỏ hơn hoặc bằng 16 chỗ và xe ô tô con có chiều rộng là 3,90 m, làn đƣờng xe ô tô có chiều rộng 3,60 m, giữa 02 (hai) làn đƣờng này là vạch đơn, đứt nét, màu trắng; Làn đƣờng xe máy, xe hai bánh loại có động cơ và xe đạp có chiều rộng là 3,50 m, giữa làn đƣờng này và làn đƣờng xe ô tô là vạch đơn, liền nét, màu trắng. Trên mặt đƣờng vị trí nơi xảy ra tai nạn có 07 (bảy) gờ giảm tốc độ, có vạch giới hạn mép ngoài phần đƣờng xe chạy.
Sau tai nạn giao thông hiện trƣờng để lại nhƣ sau:
Xe mô tô biển số 68D1 - 523.19 ngã qua bên trái nằm ở làn đƣờng xe ô tô khách có số chỗ ngồi nhỏ hơn hoặc bằng 16 chỗ ngồi và xe ô tô con, bánh sau nằm trên gờ giảm tốc độ, đầu xe quay về hƣớng ngã tƣ Cầu Ông Bố. Trục bánh trƣớc cách mép đƣờng bên phải đƣờng Quốc Lộ 13 (hƣớng từ ngã tƣ Cầu Ông Bố về hƣớng ngã tƣ Bình Hòa) là 8,70 m. Trục bánh sau cách mép đƣờng bên phải đƣờng Quốc Lộ 13 là 9,40 m.
Xe ô tô tải biển số 61C - 206.71 dừng, đầu xe quay về hƣớng ngã tƣ Bình Hòa, bánh trƣớc và bánh sau bên trái nằm ở làn đƣờng xe ô tô khách có số chỗ ngồi nhỏ hơn hoặc bằng 16 chỗ ngồi và xe ô tô con, bánh trƣớc và bánh sau bên phải nằm ở làn đƣờng xe ô tô. Trục bánh trƣớc bên phải cách mép đƣờng bên phải đƣờng Quốc Lộ 13 (hƣớng từ ngã tƣ Cầu Ông Bố về hƣớng ngã tƣ Bình Hòa) là 6,00 m. Trục bánh sau bên phải cách mép đƣờng bên phải đƣờng Quốc Lộ 13 là 6,10 m. Trục bánh trƣớc bên trái cách trụ đèn số 107 trong dải phân cách loại cố định là 14,80 m. Trục bánh sau bên trái cách trục bánh sau xe mô tô 68D1 - 523.19 là 34,60 m.
Xe mô tô biển số 68D1 - 523.19 ngã có để lại vết cày dài 9,40 m, chiều hƣớng từ ngã tƣ Cầu Ông Bố về hƣớng ngã tƣ Bình Hòa. Đầu vết cày cách mép đƣờng bên phải đƣờng Quốc Lộ 13 (hƣớng từ ngã tƣ Cầu Ông Bố về hƣớng ngã tƣ Bình Hòa) là 7,40 m. Cuối vết cày trùng với gác chân sau bên trái nơi xe đang ngã.
Hiện trƣờng có 01 (một) vết nghi máu, kích thƣớc 0,50 m x 0,60 m, một phần vết nghi máu nằm trên vạch giới hạn mép ngoài phần đƣờng xe chạy. Tâm vết nghi máu cách mép đƣờng bên phải đƣờng Quốc Lộ 13 (hƣớng từ ngã tƣ Cầu ông Bố về hƣớng ngã tƣ Bình Hòa) là 10,50 m và cách trục bánh sau xe mô tô biển số 68D1 - 523.19 là 1,50 m.
Hiện trƣờng có 01 (một) vết nghi máu, kích thƣớc 0,30 m x 0,20 m, một phần vết nghi máu nằm trên gờ giảm tốc độ. Tâm vết nghi máu cách mép đƣờng bên phải đƣờng Quốc Lộ 13 (hƣớng từ ngã tƣ Cầu Ông Bố về hƣớng ngã tƣ Bình Hòa) là 8,80 , và cách trục bánh trƣớc xe mô tô biển số 68D1 - 523.19 là 2,20 m.
- Kết quả khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông: Căn cứ Kết luận giám định số 111/2021/GĐCH-PC09 ngày 26/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận điểm va chạm đầu tiên và cơ chế hình thành dấu vết trên phƣơng tiện xe ô tô tải biển số 61C - 206.71 và xe mô tô biển số 68D1 - 523.19:
+ Dấu vết va chạm giữa xe ô tô tải biển số 61C - 206.71 và xe mô tô biển số 68D1 - 523.19 là: Các dấu vết vỡ, trƣợt xƣớc sơn màu cam, bám dính chất màu bạc (dạng sơn), ở mặt trên mũi vè chắn bùn bánh trƣớc, mặt nạ, bửng chắn gió bên phải, cụm đèn chiếu sáng, cong các chi tiết kim loại ở mặt trƣớc cổ xe, cong khung sƣờn xe mô tô biển số 68D1 - 523.19, có chiều từ trƣớc về sau phù hợp với các dấu vết trƣợt xƣớc màu sơn bạc, bám dính chất màu cam (dạng sơn), hằn lõm, cong biến dạng kim loại ở góc bên trái mặt sau thùng xe ô tô tải biển số 61C - 206.71, có chiều từ sau về trƣớc.
+ Cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên phƣơng tiện là: phần đầu bên phải xe mô tô biển số 68D1 - 523.19 va chạm vào mặt sau góc trái thùng xe ô tô tải biển số 61C - 206.71 tạo ra dấu vết trên các phƣơng tiện.
+ Vị trí và chạm giữa xe ô tô tải biển số 61C - 206.71 và xe mô tô biển số 68D1 - 523.19 chiếu xuống mặt đƣờng là khu vực phía trƣớc bên phải đầu vết cày (kí hiệu số 3) thuộc làn giữa phần đƣờng bên phải (theo mép đƣờng chuẩn) trên Sơ đồ hiện trƣờng.
Căn cứ Bản Kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 214/2021/GĐPY ngày 04/5/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Dƣơng kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể của ông Mai Văn K: Chấn thƣơng sọ não: máu tụ ngoài màng cứng thái dƣơng - đỉnh trái, nứt sọ thái dƣơng, tụ khí nội sọ, chảy máu tai trái, chảy máu mũi, đã phẩu thuật lấy máu tụ, đắp lại mảnh sọ kích thƣớc 07 x 6 cm. Di chứng: Liệt nửa mặt ngoại biên bên trái (mắt nhắm không kín, lệch nhân trung); yếu liệt nửa ngƣời phải, sức cơ tay phải 3/5, sức cơ chân phải 4/5. Chấn thƣơng gãy xƣơng đòn trái, can xấu lệch trục. Gãy xƣơng sƣờn 2, 3, 4, 5, 6 trái, đã can. Xây xát mi mắt trái đã lành. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là: 67% (Sáu mƣơi bảy phần trăm) theo bảng tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể ban hành kèm theo thông tƣ số: 22/2019/TT-BYT do Bộ Y Tế ban hành ngày 28/8/2019.
Quá trình làm việc với cơ quan Công an về vụ tai nạn giao thông, Dƣơng C đã xuất trình 01 Giấy phép lái xe loại PET hạng A1, số 790164013809 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Kiên Giang cấp ngày 20/01/2021. Dƣơng C khai khoảng đầu tháng 03/2021 tại nhà trọ địa chỉ: khu phố Đồng An 1, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Dƣơng C sử dụng mạng xã hội Facebook liên hệ với 01 đối tƣợng (chƣa xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ) để cung cấp thông tin cá nhân, hình ảnh để mua 01 giấy phép lái xe hạng A1 với giá 1.500.000 đồng nhằm mục đích để dành sử dụng. Ngày 20/3/2021, nhân viên giao hàng (không xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ) đến nhà trọ và giao 01 Giấy phép lái xe loại PET hạng A1, số 790164013809 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Kiên Giang cấp ngày 20/01/2021 cho C và nhận thanh toán số tiền 1.500.000 đồng. C cất giữ giấy phép lái xe trong ngƣời để sử dụng khi tham gia giao thông. Ngày 18/5/2021, Phòng CSGT-Công an tỉnh Bình Dƣơng có Quyết định trƣng cầu giám định số 04/QĐ-TCGĐ trƣng cầu Phòng KTHS-Công an tỉnh Bình Dƣơng giám định một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số: 790164013809, hạng A1, họ tên: Dƣơng C, ngày sinh: 19/3/1996, nơi cƣ trú: xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, đề ngày 20/01/2021
Kết luận giám định số 210/GĐ-PC09 ngày 18/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số: 790164013809, hạng A1, họ tên: Dƣơng C, ngày sinh: 19/3/1996, nơi cƣ trú: xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, đề ngày 20/01/2021 (ký hiệu A) là giấy giả.
- Tại bản Cáo trạng số 336/CT-VKS -TA ngày 10/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Dƣơng C về các tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ và Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 260 và Khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung v n giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Dƣơng C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” và từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mƣời hai) tháng tù về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Về vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 68D1 - 523.19 của bà Thị P, bà Pđã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thƣờng trách nhiệm dân sự gì khác. Nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà P là phù hợp nên không đề cập xử lý.
Đối với xe ô tô tải biển số 61C - 206.71 do ông Nguyễn Văn N điều khiển tại thời điểm xảy ra tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An xác định do ông Vũ Văn Kiên, sinh năm: 1979; hộ khẩu thƣờng trú: khu phố Chiêu Liêu, phƣờng Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng) đứng tên chủ sở hữu. Ông Kiên đã bán xe ô tô tải biển số 61C - 206.71 cho ông N nhƣng chƣa làm thủ tục sang tên, ông Kiên không có yêu cầu gì khác nên Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Bình Dƣơng đã xem xét trả lại xe ô tô tải biển số 61C - 206.71 cho ông N là có căn cứ.
Đối với 01 (một) “Giấy phép lái xe” (PET) số: 790164013809, hạng A1, họ tên: Dƣơng C, ngày sinh: 19/3/1996, nơi cƣ trú: xã Mỹ H, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đề ngày 20/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An xác định là tài liệu giả, không có giá trị sử dụng nên cần tiếp tục lƣu giữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với đối tƣợng làm giả giấy phép lái xe cho bị cáo, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhƣng chƣa xác định rõ lai lịch, địa chỉ của đối tƣợng này nên sẽ tiếp tục xác minh và xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Thị Kim H là mẹ của bị cáo Dƣơng C đã tự nguyện thỏa thuận bồi thƣờng chi phí điều trị thƣơng tích số tiền 15.000.000 đồng (Mƣời lăm triệu đồng) cho bị hại Mai Văn K. Ông K không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Dƣơng C. Đồng thời, bà Thị Kim H không yêu cầu Dƣơng C trả lại số tiền 15.000.000 đồng nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất tội danh truy tố, lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về để làm ngƣời có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Dƣơng C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố đối với bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của ngƣời làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 16 giờ 17 phút ngày 31/3/2021 tại khu vực trƣớc căn nhà địa chỉ: số 7/7, khu phố Bình Đức 1, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Dƣơng C điều khiển xe mô tô biển số 68D1 - 523.19 chở Danh Q và Mai Văn K cùng ngồi phía sau lƣu thông không đúng làn đƣờng quy định và không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trƣớc, gây ra tai nạn giao thông với xe ô tô tải biển số 61C - 206.71 do ông Nguyễn Văn N điều khiển. Hậu quả làm ông Mai Văn K té ngã xuống đƣờng bị thƣơng tích với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể là 67% (Sáu mƣơi bảy phần trăm). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố đối với bị cáo là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Ngoài ra, vào đầu tháng 03/2021 tại địa chỉ: Số 21D/2C, khu phố Đ, phƣờng B, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Dƣơng C có hành vi cung cấp thông tin lai lịch, địa chỉ và ảnh chân dung cá nhân cho một đối tƣợng không xác định rõ lai lịch, địa chỉ trên mạng xã hội Facebook để đặt làm giả 01 (một) Giấy phép lái xe (PET) số: 790164013809, hạng A1, họ tên: Dƣơng C, ngày sinh: 19/3/1996, nơi cƣ trú: xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đề ngày 20/01/2021 để sử dụng khi tham gia giao thông. Do đó, có cở sở xác định bị cáo Dƣơng C phạm Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi. Bản thân bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định nhƣng v n tham gia giao thông và biết rõ các quy định về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ nhƣng không chấp hành nghiêm chỉnh luật giao thông. Bị cáo điều khiển xe chở vƣợt quá số ngƣời quy định, thiếu sự quan sát, chạy xe không đúng làn đƣờng. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nƣớc về an toàn, trật tự công cộng, xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác, gây ảnh hƣởng đến trật tự, an toàn giao thông đƣờng bộ tại địa phƣơng. Ngoài hành vi vi phạm quy định phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ, bị cáo còn có hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức là giấy phép lái xe. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nƣớc, làm ảnh hƣởng đến hoạt động bình thƣờng của cơ quan tổ chức, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để bị cáo có thời gian suy nghĩ lại hành vi phạm tội của mình nhằm giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Do bị cáo cùng lúc phạm 2 tội, vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thƣờng khắc phục hậu quả cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Mức hình phạt theo lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại về việc không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng.
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô biển số 68D1 - 523.19 của bà Thị P, bà P đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thƣờng trách nhiệm dân sự gì khác, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà P là phù hợp nên không đề cập xử lý.
Đối với xe ô tô tải biển số 61C - 206.71 do ông Nguyễn Văn N điều khiển, Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Bình Dƣơng đã xem xét trả lại xe ô tô tải cho ông N là có căn cứ.
Đối với 01 (một) “Giấy phép lái xe” (PET) số: 790164013809, hạng A1, họ tên: Dƣơng C, ngày sinh: 19/3/1996, nơi cƣ trú: xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đề ngày 20/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An xác định là tài liệu giả, cần tiếp tục lƣu giữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với đối tƣợng làm giả giấy phép lái xe cho bị cáo, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhƣng chƣa xác định rõ lai lịch, địa chỉ của đối tƣợng này nên sẽ tiếp tục xác minh và xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm a Khoản 2 Điều 260, Khoản 1 Điều 341; Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình sự;
Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Dƣơng C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ và Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Dƣơng C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
Xử phạt bị cáo Dƣơng C 09 (chín) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt chung cả 02 tội, buộc bị cáo Dƣơng C phải chấp hành là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2022.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại về việc không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng.
4. Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô biển số 68D1 - 523.19 của bà Thị P, bà P đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thƣờng trách nhiệm dân sự gì khác, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà P là phù hợp nên không đề cập xử lý.
Đối với xe ô tô tải biển số 61C - 206.71 do ông Nguyễn Văn N điều khiển, ngày 26/12/2021 Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Bình Dƣơng đã trả lại xe ô tô cho ông N là có căn cứ nên không đề cập giải quyết.
Đối với 01 (một) “Giấy phép lái xe” (PET) số: 790164013809, hạng A1, họ tên: Dƣơng C, ngày sinh: 19/3/1996, nơi cƣ trú: xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, đề ngày 20/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An xác định là tài liệu giả, cần tiếp tục lƣu giữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với đối tƣợng làm giả giấy phép lái xe cho bị cáo, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhƣng chƣa xác định rõ lai lịch, địa chỉ của đối tƣợng này nên sẽ tiếp tục xác minh và xử lý sau.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Dƣơng C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Chánh án; - Bị cáo; - Bị hại; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu:HS,THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thu Thảo |