vanban.org

Bản án 335/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Gia A đối với anh Lê Văn B.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Gia A được ly hôn với anh Lê Văn B; 2. Về con chung: Giao 03 con chung tên Lê Lộc Hồng E, sinh ngày 11/03/2013; Lê Lộc Cát G, sinh ngày 30/5/2017; Lê Lộc Cát H, sinh ngày 30/5/2017 cho chị Phạm Gia A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Gia A đối với anh Lê Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 335/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 18/11/2021
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Lil;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Châu Vũ Bình;

2. Ông Nguyễn Văn Vẹn;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Phong, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Thanh – Kiểm sát viên;

Trong ngày 18 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/TLST-HNGĐ ngày 23/3/2021 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/9/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số: 122/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22/10/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Phạm Gia A, sinh năm 1977 (xin vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang;

2. Bị đơn: Lê Văn B, sinh năm 1976 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp M1,xã N1, huyện Y, tỉnh Bình Dương;

Tạm trú: Ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Gia A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn B qua tìm hiểu và tự nguyện sống chung vào năm 1999 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N1, huyện Y, tỉnh Bình Dương vào năm 1999. Thời gian đầu sống rất hạnh E, Dng sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, cãi vã, vợ chồng hiện đã ly thân với nhau từ năm 2019 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Văn B.

Về con chung: có 05 con chung tên Lê Phạm Gia C, sinh ngày 13/9/2000; Lê Phạm Huỳnh D, sinh ngày 10/8/2002; Lê Lộc Hồng E, sinh ngày 11/03/2013; Lê Lộc Cát G, sinh ngày 30/5/2017; Lê Lộc Cát H, sinh ngày 30/5/2017 hiện đang sống với chị và anh B. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Lê Lộc Hồng E, sinh ngày 11/03/2013; Lê Lộc Cát G, sinh ngày 30/5/2017; Lê Lộc Cát H, sinh ngày 30/5/2017 không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu.

Về nợ chung: Không có;

Bị đơn anh Lê Văn B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo qui định pháp luật, Dng anh B vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và cũng không có gửi văn bản ghi ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị A đối với anh B.

Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Việc tuân thủ pháp luật về thẩm quyền giải quyết, về quan hệ tranh chấp, về thu thập chứng cứ đúng theo qui định pháp luật tố tụng; Về thời hạn chuẩn bị xét xử, gửi hồ sơ có vi phạm về thời gian; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa đúng quy định.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của họ theo quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Viện kiểm sát có lập luận lý do chị Phạm Gia A xin ly hôn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đã ly thân từ năm 2019 đếnn nay do anh B không quan C chăm sóc vợ con, anh B triệu tập không đến chứng tỏ anh không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng nên đề nghị Tòa cho chị A ly hôn và giao 03 con chung chưa trưởng thành cho chị A nuôi theo yêu cầu chị A là có cơ sở.

Kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử xét thấy.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Gia A và anh Lê Văn B qua tìm hiểu, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã N1, huyện Y tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 1999 là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp được xem xét giải quyết theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tố tụng: Bị đơn anh Lê Văn B đã được triệu tập hợp lệ xét xử, Dng vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh B.

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Gia A Hội đồng xét xử nhận thấy nguyên nhân chị A xin ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến xung đột, có nhiều mâu thuẫn, anh B không quan C, chăm sóc vợ con, không chăm lo kinh tế gia đình nên hiên tại mâu thuẫn giữa anh chị rất trầm trọng, vợ chồng không còn chung sống, đã ly thân từ năm 2019, mục đích hôn hiện tại không đạt được, chị A kiên quyết xin ly hôn để ổn định cuộc sống là có căn cứ. Phía anh B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Dng anh B vẫn không đến Tòa án và cũng không có gửi văn bản ghi ý kiến hay phản đối gì về yêu cầu khởi kiện của chị A, điều đó cho thấy anh B không có thiện chí để hàn gắn tình cảm với chị A nên cần xem xét cho chị A ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 05 con chung tên Lê Phạm Gia C, sinh ngày 13/9/2000; Lê Phạm Huỳnh D, sinh ngày 10/8/2002; Lê Lộc Hồng E, sinh ngày 11/03/2013; Lê Lộc Cát G, sinh ngày 30/5/2017; Lê Lộc Cát H, sinh ngày 30/5/2017 hiện đang sống với chị A và anh B. Khi ly hôn chị A yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung chưa thành niên, con thành niên chị không có yêu cầu gì, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu nuôi 03 con chung chưa thành niên của chị A là có căn cứ, bởi vì anh Điền cũng không có ý kiến phản đối gì về việc chị A có yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, ý kiến nguyện vọng của cháu E muốn sống với chị A, hai cháu Cát G, Cát H còn nhỏ cần có sự chăm sóc của người mẹ nên giao 03 con chung cho chị A tiếp tục nuôi, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị A không có yêu cầu;

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Phạm Gia A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Xét ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát về Tòa án có vi phạm về thời hạn gửi văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát là do tình hình dịch bệnh, vụ án đến hạn xét xử khi còn thực hiện giãn cách xã hội nên việc hoàn thiện thủ tục của Tòa án gửi viện kiểm sát còn chậm. Xét đề nghị đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án có căn cứ phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự ;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Gia A đối với anh Lê Văn B.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Gia A được ly hôn với anh Lê Văn B;

1.2. Về con chung: Giao 03 con chung tên Lê Lộc Hồng E, sinh ngày 11/03/2013; Lê Lộc Cát G, sinh ngày 30/5/2017; Lê Lộc Cát H, sinh ngày 30/5/2017 cho chị Phạm Gia A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng;

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh B đến khi chị A có yêu cầu.

Anh Lê Văn B có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.

1.3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu;

1.4. Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí: Chị Phạm Gia A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị A đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0004767 ngày 18/3/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chợ Gạo nên xem D nộp xong án phí.

3. Quyền kháng cáo: Chị A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án họp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ