- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 335/2017/HSST Ngày 11/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Ninh
2. Ông Trần Quảng Thái
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Thái, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2017, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 326 /2017/HSST ngày 18 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K, tên gọi khác: không; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1992; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh T; Chỗ ở: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Thiên Chúa; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp:Cắt tóc; Con ông: Nguyễn Văn Á, sinh năm 1962; Con bà: Phạm Thị K, sinh năm 1965; Có vợ là Hứa Thị H, sinh năm 1990; Có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016; Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ tư;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2017 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
( Có mặt tại phiên toà)
Người làm chứng: Ông Nguyễn Tiến H, sinh năm: 1942, trú tại: Tổ 20, phường Q, thành phố T, tỉnh T.
( Vắng mặt tại phiên tòa)
NHẬN THẤY
Bị cáo Nguyễn Văn K bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 13/6/2017, tổ công tác của Công an phường Gia Sàng phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành tuần tra kiểm soát trên tuyến đường L. Khi đến khu vực cổng trường đại học Y Thái Nguyên thuộc tổ 25, phường Q, thành phố T, tổ công tác phát hiện 01 (một) nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiếp cận và yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai tên là Nguyễn Văn K. K tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 (một) gói bằng giấy màu vàng, bên trong có chứa chất màu trắng đang cầm tại lòng bàn tay phải. K khai nhận đó là Hêrôin của K mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của K 171.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4S, màu trắng.
Cùng ngày, tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên cân số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn K có trọng lượng (khối lượng) 0,152 gam.
Tại Kết luận giám định số 773/KL-PC54 ngày 20/6/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn K là chất ma túy, loại Hêrôin , có trọng lượng (khối lượng)là: 0,152gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn K khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13/6/2017, K đi xe buýt một mình từ nhà xuống khu vực cổng Trường Đại học y Thái Nguyên, mục đích tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, K gặp và mua của người đàn ông tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 gói Hêrôin được gói bằng giấy màu vàng với giá 80.000 đồng. Mua xong K cầm gói Hêrôin trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ ra khu vực bến chờ xe buýt để đi về. Khi K vừa đi được khoảng 10m thì bị tổ công tác của Công an phường G và Công an thành phố T kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng như nêu trên.
Lời khai nhận của Nguyễn Văn K phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu A; 01 bì niêm phong ký hiệu K (bên trong có 01 điện thoại di động IPHONE 4S, màu trắng); 171.000 đồng (Một trăm bảy mươi một nghìn đồng). Hiện được lưu giữ tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 343/KSĐT-MT ngày 17/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.
Phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14 về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH 13; Khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn K : Từ 24 đến 30 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41BLHS; Điều 76 BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 01(Một) bì niêm phong ký hiệu A.
Tạm giữ của bị cáo: 01(Một) bì niêm phong ký hiệu K (bên trong có 01 điện thoại di động IPHONNE 4S,màu trắng); Số tiền 171.000đồng (Một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) Tại ủy nhiệm chi số 92 ngày 08/8/2017 để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt được sớm trở về cùng gia đình.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người làm chứng, Hội đồng xét xử
XÉT THẤY
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn văn K thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện.Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng,với vật chứng đã thu được, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 13/06/2017, tại khu vực tổ 25, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, Nguyễn Văn K đang có hành vi tàng trữ 0,152 gam Hêrôin, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Gia Sàng và Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Khoản 1 Điều 194 BLHS quy định như sau:
“1. Người nào….tàng trữ trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội.Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là đối tượng nghiện ma túy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 Bộ Luật hình sự.
Căn cứ Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 của Quốc hội quy định: Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích.
Dẫn chiếu tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có mức hình phạt cao nhất là 5 năm tù, nhẹ hơn mức hình phạt cao nhất là 7 năm tù quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Vì vậy, áp dụng hình phạt theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy nên giảm cho bị cáo một mức hình phạt để bị cáo thấy rõ lượng khoan hồng của pháp luật, tích cực cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội.
Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra, xác minh tại địa phương bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không nghề nghiệp, bản thân sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01(Một) bì niêm phong ký hiệu A xét đây là tang vật phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Văn K: 01(Một) bì niêm phong ký hiệu K (bên trong có 01 điện thoại di động IPHONNE 4S,màu trắng); Số tiền 171.000đồng (Một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) Tại ủy nhiệm chi số 92 ngày 08/8/2017 để đảm bảo thi hành án.
Trong vụ án này Nguyễn Văn K khai mua Hêrôin của một 01 đối tượng tên Thành (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại khu vực tổ 25, phường Q, thành phố T. Do không xác định được lai lịch, địa chỉ của đối tượng trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở để làm rõ, xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
1. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt Nguyễn Văn K 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/6/2017.
- Áp dụng Điều 228 của Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn K 45 (Bốn mươi năm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01(Một) bì niêm phong ký hiệu A.
Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Văn K: 01(Một) bì niêm phong ký hiệu K (bên trong có 01 điện thoại di động IPHONNE 4S,màu trắng); Số tiền 171.000đồng (Một trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) Tại ủy nhiệm chi số 92 ngày 08/8/2017 để đảm bảo thi hành án.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 359 ngày 15/8/2017 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
3.Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm,có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Nguyên; - Công an TP. Thái Nguyên; -TAND,VKSND tỉnh Thái Nguyên; - THADS TP. Thái Nguyên; - THA phạt tù; - Người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - UBND TT H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. - Lưu:Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Trần Thị Minh Hải |