vanban.org

Bản án 334/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Khắc H đối với bị đơn chị Lê Thị N về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Khắc H được ly hôn với chị Lê Thị N (theo giấy chứng nhận kết hôn số 07, do Ủy ban nhân dân phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 21/01/20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Khắc H"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 334/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 04/8/2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Vân;

Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 453/2026/TLST–HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2026 về tranh chấp theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2026/QĐXXST–HNGĐ ngày 18/6/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 193/2026/QĐST-HNGĐ ngày 06/07/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Khắc H; sinh năm 1991; địa chỉ: Số F khu phố C phường A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Lê Thị N; sinh năm 1997; địa chỉ: Số F khu phố C phường A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện nộp tại tòa và lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn anh Nguyễn Khắc H trình bày:

Anh Nguyễn Khắc H và chị Lê Thị N đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 07, ngày 21/01/2020, tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, vợ chồng không tôn trọng nhau, không có tiếng nói chung trong gia đình, không ai quan tâm đến ai. Anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị N .

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Lê Bảo N1, sinh ngày 22/6/2020; Nguyễn Khắc Minh K, sinh ngày 19/02/2023. Khi ly hôn, anh H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Lê Bảo N1, không yêu cầu chị N phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh H giao con chung tên Nguyễn Khắc Minh K cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ngày 05/6/2026 Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa anh H, chị N tại khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh và được cung cấp như sau: Địa phương không nắm được tình hình mâu thuẫn giữa vợ chồng anh H, chị N do các đương sự không trình báo với địa phương.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn anh Nguyễn Khắc H khởi kiện tranh chấp ly hôn với chị Lê Thị N, sinh năm: 1997 cư trú tại: Số F khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn anh H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; bị đơn chị N đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ các Điều 207, 227 và 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Khắc H và chị Lê Thị N đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 07, tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh ngày 21/01/2020, nên hôn nhân giữa anh H và chị N là hợp pháp.

Quá trình tố tụng anh H xác định cuộc sống sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, vợ chồng không tôn trọng nhau, không có tiếng nói chung trong gia đình, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị N.

Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Anh H xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và hiện cả hai đều không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Chị N đã được Tòa án triệu tập làm việc và tham gia hòa giải cũng như tham gia phiên tòa trong vụ án nhưng đều vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án cũng như không thể hiện ý muốn hòa giải đoàn tụ. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị N, anh H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, anh H yêu cầu được ly hôn với chị N là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh H, chị N có 02 con chung tên Nguyễn Lê Bảo N1, sinh ngày 22/6/2020 và Nguyễn Khắc Minh K, sinh ngày 19/02/2023. Khi ly hôn anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Lê Bảo N1, anh H giao con chung Nguyễn Khắc Minh K cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Xét, việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Quá trình tố tụng tại Tòa án, chị N vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý chí mong muốn được nuôi con chung. Do vậy, để ổn định cuộc sống con chung cũng như xét điều kiện thực tế của anh H, cần giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của anh H về việc nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu chị N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận ý kiến của anh H.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Khắc H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ :

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Khắc H đối với bị đơn chị Lê Thị N về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Khắc H được ly hôn với chị Lê Thị N (theo giấy chứng nhận kết hôn số 07, do Ủy ban nhân dân phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 21/01/2020).

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lê Bảo N1, sinh ngày 22/6/2020 cho anh Nguyễn Khắc H trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Giao con chung tên Nguyễn Khắc Minh K, sinh ngày 19/02/2023 cho chị Lê Thị N trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Anh H, chị N không ai thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Khắc H và chị Lê Thị N có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: anh Nguyễn Khắc H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0029197 ngày 11/05/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ