vanban.org

Bản án 334/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Quy B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hồ Quy B 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Quy B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 334/2024/HS-ST
Ngày: 03-12-2024
-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.

2/ Ông Huỳnh Văn Bé.

- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 316/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Hồ Quy B, sinh năm: 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Đường A, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn L (chết) và bà Nguyễn Thị N; có vợ tên Nguyễn Thị Kim L1 và 01 con sinh năm 2012;

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 28/12/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 294/QĐ-TA, tháng 7/2023 chấp hành xong trở về địa phương.

Nhân thân: Ngày 20/9/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 174/2013/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/3/2018.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2024. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Xuân M, sinh năm: 1974; địa chỉ: Số B N, Tổ I, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 27/6/2024, Công an xã T phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy tuần tra trên địa bàn xã T khi đến Đường A thuộc Ấp B, xã T phát hiện Hồ Quy B đang điều khiển xe gắn máy biển số 52S4-2600 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra Công an phát hiện trong túi quần phía trước bên phải B đang mặc cất giấu 01 đoạn ống hút nhựa chứa tinh thể. B khai nhận đó là ma túy đá mua của thanh niên tên T (không rõ lai lịch) ở xã T, huyện C với giá 200.000 đồng về để sử dụng. Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hồ Quy B.

Trước đó vào khoảng 15 giờ ngày 27/6/2024, B dùng số điện thoại 0962848470 gọi điện vào số điện thoại 0377919787 cho người thanh niên tên T ngụ tại Ấp C, xã T, huyện C để hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. T đồng ý bán và hẹn B đến đoạn Đường A thuộc Ấp B, xã T để nhận ma túy. B điều khiển xe gắn máy biển số 52S4-2600 đến điểm hẹn. Sau khi lấy được ma túy với T, B cất dấu đoạn ống nhựa chứa ma túy vào túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe về nhà. Khi đi đến đoạn Đường A thuộc Ấp B, xã T thì bị Công an xã T kiểm tra bắt quả tang như nêu trên.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Hồ Quy B tại Ấp B, xã T, huyện C không thu giữ gì.

Kết quả xét nghiệm ma túy đối với bị cáo Hồ Quy B xác định dương tính với chất ma túy tổng hợp.

Kết luận giám định số 7861/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận (BL 31): Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5647 gam loại Methamphetamine.

Tại Bản cáo trạng số 296/CT-VKS.CC ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Hồ Quy B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

* Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hồ Quy B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 gói mang số vụ 2418/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên.

+ Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu S Galaxy J7 Pro có số Imei 1: 356202095113769, số Imei 2: 356203095113767, đã qua sử dụng.

+ Đối với 01 xe gắn máy không rõ nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất biển số 52S4-2600, số máy: RRKWCH2UM7XC102789, số khung: VTT36JL1P52FMH-002789: Tiếp tục thông báo truy tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe để giao trả cho chủ sở hữu; nếu hết thời hạn thông báo truy tìm mà không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

* Bị cáo không có lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi.

* Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình, chăm sóc mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 15 giờ 15 phút ngày 27/6/2024, tại Đường A thuộc Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Hồ Quy B bị bắt quả tang đang tàng trữ 01 đoạn ống hút nhựa chứa ma túy được bị cáo mua về để sử dụng. Theo Kết luận giám định số 7861/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận số ma túy thu giữ của Hồ Quy B là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,5647 gam loại Methamphetamine.

Với hành vi nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo B đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất gây nghiện mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là mầm mống phát sinh các tệ nạn khác trong xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tuy nhiên, bị cáo thể hiện thái độ chấp hành pháp luật chưa tốt. Cụ thể: Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng và bị cáo có nhân thân xấu: Vào năm 2013, bị xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói mang số vụ 2418/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và giám định viên: Đây là vật cấm lưu hành nên cần tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro có số Imei 1: 356202095113769, số Imei 2: 356203095113767, bị cáo dùng liên lạc mua ma túy, đây là phương tiện phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 xe gắn máy không rõ nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất biển số 52S4-2600, số máy: RRKWCH2UM7XC102789, số khung VTT36JL1P52FMH-002789, bị cáo khai mua của người thanh niên (không rõ lai lịch) vào tháng 10/2023 với giá 700.000 đồng và sử dụng xe để đi mua ma túy. Qua điều tra xác minh do bà Phạm Thị Xuân M đứng tên đăng ký sở hữu năm 2007. Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có cá nhân, tổ chức nào đến liên hệ giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục thông báo truy tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe để giao trả cho chủ sở hữu; nếu hết thời hạn thông báo truy tìm mà không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với người thanh niên tên T (không rõ lai lịch) đã bán ma túy cho bị cáo, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Hồ Quy B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hồ Quy B 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói mang số vụ 2418/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên.

- Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu S Galaxy J7 Pro có số Imei 1: 356202095113769, số Imei 2: 356203095113767, có số sim 0962848470.

- Tiếp tục giao cơ quan thi hành án huyện C đăng thông báo tìm chủ sở hữu theo quy định đối với 01 (một) xe gắn máy không rõ nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất biển số 52S4-2600, số máy: RRKWCH2UM7XC102789, số khung: VTT36JL1P52FMH-002789 trong thời hạn 03 tháng, nếu hết thời hạn thông báo truy tìm mà không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1333/LNK-CSĐT-MT ngày 05/9/2024 và Phiếu nhập kho vật chứng số 231/PNK ngày 09/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ